Những danh nhân võ thuật từ xưa đến nay!
Vài danh sư Vịnh Xuân phái trước năm 1975 ở Sài gòn – Chợ Lớn
Trước năm 1975 ở Sài gòn, chợ lớn chỉ có một vài danh sư Vịnh xuân phái vốn là người Hoa sang định cự Tuy nhiên phải đợi đến sau “hiện tượng Lý Tiểu Long” các vị mới chính thức truyền dạy môn này bởi bản thân các danh sư này được trang bị rất nhiều kiến thức võ học khác nhau của nền võ học Trung Hoạ
-Một trong những vị danh sư đầu tiên phải kể đến là ông Nguyễn Tế Công một người hoa gốc Phúc kiến. Ông vốn là sư huynh của Diệp Vấn- Chưởng môn phái Vịnh Xuân tại Hongkong và là sư phụ của Lý Tiểu Long-Sang sinh sống tại Việt Nam từ trước năm 1945. Ngoài môn Vịnh Xuân, ông Nguyễn Tế Công còn tinh thông nhiều môn võ Trung Quốc khác. Với sự tổng hợp những tinh hoa các môn võ đã học được ông Nguyễn Tế Công đã từng đề xướng việc thành lập một môn võ phái mới mang tên Lôi Vu đạọ
-Vị thứ 2 là ông Huỳnh Bá Phước, người Hoa gốc Vân Nam một cao thủ môn phái Thiếu Lâm Bạch Hạc đồng thời khá am tường về kỹ thuật Vịnh Xuân phái, ông sang định cư tại Việt Nam từ trước năm 1945 sống ở rất nhiều nơi: Trà Vinh, Sài Gòn, Thủ dầu một..., nghề chính của ông là Đông y sĩ, còn việc dạy võ là tiêu khiển cho nên học trò của ông phần lớn là đông ỵ Hãn hữu là trường hợp của lão võ sư Từ Thiện đã từng giúp đỡ ông rất nhiều trong việc mở hiệu thuốc đông y lên ông đã truyền dạy tất cả các sở học võ thuật của mình về Thiếu Lâm Bạch Hạc , cũng như về Vịnh Xuân.
-Một danh sư khac cũng được nhiều người biết đến là ông Phùng Điểm, người Hoa gốc Quảng Đông, sang định cư tại chợ Lớn những năm 1940-1950. Cũng như các vị danh sư khác ông rất tinh thông các môn võ Trung Hoa, nhất là Địa Đường môn. Trước năm 1975 ông mở võ đường ở chợ Lớn thu hút rất nhiều môn sinh, tuy nhiên kỹ thuật chủ yếu trong giáo trình của ông là Thiếu Lâm Nam pháị
-Danh sư thứ tư có thể kể đến chính là ông Hoắc Phi Hùng người Hoa gốc Quảng Đông, sang định cư tại vùng Khánh hội từ những năm 1950. Những năm đầu sang Việt Nam, tuổi còn trẻ, ông Hùng sống bằng nghề ‘Sơn Đông mãi võ”. những võ công củat ông biểu diễn hầu hết là thuộc hệ thống Thiếu Lâm pháị Ông cũng từng tập luyện Vịnh Xuân phái có đẳng cấp và ông truyền dạy kỹ thuật này lại cho anh Huỳnh Đắc Hiếu, một dược sĩ hâm mộ võ thuật, đã từng giúp dỡ ông khá nhiều trong một lần ông nằm bệnh viện. Một trong những ký thuật anh Hiếu học đuợc từ ông đáng kể nhất là hệ thống luyện tập với mộc nhân- một kỹ thuật độc đáo của Vĩnh Xuân pháị
:)>-
Re: Những danh nhân võ thuật từ xưa đến nay!
Lão võ sư Nguyễn Văn Nhân (chưởng môn Thăng Long võ đạo)
Một võ sư cũng lăn lộn nơi chiến trường, cựu sĩ quan quân độI về hưu – bác Nguyễn Văn Nhân. Môn phái của bác nổI tiếng nhất ở môn “Khẩu lợI công”. Một chiếc bàn làm việc bằng gỗ, trên đó có sắp đủ bài vị, hương nến, hoa quả và đặc biệt nhất có lẽ là chiếc đỉnh đồng đốt hương trầm cùng giá kiếm trước khung ảnh Bồ Đề Đạt Ma, ngần thứ ấy trông mặt bàn đầy ắp, thế rồI HLV Nguyễn Văn Thắng, con trai của võ sư Nguyễn Văn Nhân bước tớI bàn vận nộI công rồI xuống tấn, hạ thấp trọng tâm cắn răng vàp 1 góc bàn từ từ nâng chiếc bàn lên, quay qua quay lạI cho khán giả nhìn non phút rồI hạ xuống. Lão võ sư Nguyễn Văn Nhân trước kia cũng dạy võ cho đặc công, trinh sát. Vào dịp nào mở hộI thi võ hoặc thi đấu thể thao, mờI võ sư Văn Nhân ra biểu diễn, sẽ thấy một bác già mặc quân phục đã cũ, đeo một ngực huân chương, huy chương lấp lánh bước ra múa quyền tung hoành, đấm đá tứ tung, sát khí ngờI trên mặt, đúng là càng già càng dẻo, càng dai. Môn phái Thăng Long võ đạo nổI tiếng còn có bài Thăng Long Yểm Nguyệt Đao (rồng bay lên nuốt trăng).
Võ sư Phan Dương Bình (Vịnh Xuân và Vovinam đất Bắc)
Còn một nhân vật rất gần gũi vớI lớp trung niên, tính tình vui vẻ, tiếng tăm trên giang hồ không phảI nhỏ, đó là võ sư Phan Dương Bình, biệt danh là Bình bún. Có giai thoạI kể là ông học được xúc cốt công, ngườI mềm oặt, thu nhỏ ngườI lạI, nhân có ngườI đố, ông cuộn ngườI vào nằm trong rổ đựng bún - từ đó có tên Bình bún. Ông sinh năm Mậu Thìn, vốn yêu võ từ nhỏ, lúc 8 tuổI học Hồng gia vớI Chung sư phụ ( 1 trong những ngườI đầu tiên truyền bá Hồng gia quyền vào Việt Nam). Thuở chung niên, là 1 trong tứ đạI đệ tử của cố võ sư sáng tổ Nguyễn Lộc (Vovinam Việt Võ Đạo). Sau này, ông lạI theo học Vịnh Xuân quyền vớI võ sư Trần Thúc Tiển ở Nam Ngư rồI đậu lạI đó. Bây giờ có thể gọI ông là Vịnh Xuân Phan Dương Bình hay Phan Dương Bình Vovinam phía Bắc, riêng các võ sư trong Ban chấp hành HộI võ thì hay gọI ông là Xếnh Xáng hay ĐạI ca. Ngoài 70 tuổI mà thân thủ nhanh nhẹn, miệng cườI, mắt cũng cườI, chân tay khua múa lẹ làng. đụng đâu cũng ra thành đòn. Ông vốn là ngườI gốc Hoa nhưng đã mấy đờI ở Việt Nam, nói thạo cả Hoa – Anh – Pháp - Việt và một tí tiếng Nga. Hiện nay, ông đang được giao trọng trách của chưởng môn Vovinam Lê Sáng phát triển các kỹ thuật Vovinam cho phù hợp vớI ngườI già và phụ nữ, hay nói cách khác là đa dạng hóa phương pháp truyền dạy Vovinam.
Re: Những danh nhân võ thuật từ xưa đến nay!
Lão võ sư Nguyễn Tỵ (chưởng môn Nam Hồng Sơn)
Là con trai của lão võ sư Nguyễn Nguyên Tộ, một trong những cây đạI thụ của làng võ Bắc Hà nửa đầu thế kỷ 20. NgườI yêu nhạc còn nhớ đến Nguyễn Tỵ - 1 tay guitar trong nhóm 5 ngườI in đĩa đầu những năm 60, đó là HảI ThoạI, Quang Tôn, Tạ Tấn, Văn Vượng và Nguyễn Tỵ. Hiện nay ông đang là phó chủ tịch HộI võ thuật và là ủy viên HộI đồng cố vấn. Lúc ông đứng trước hàng ngàn quân võ trong ngày hộI của môn phái, hay trong ngày giỗ sư tổ của môn phái cũng chính là giỗ bố ông trông ông vẫn có dáng vẻ của một văn nhân, không có cái lên gân sát khí của con nhà võ. Nếu một võ sư tài ba nào của thế giớI muốn đọ ngón đàn vớI ông thì đó chuyện đó sẽ làm vinh dự cho hộI võ Hà NộI, còn một nhạc sĩ, nghệ sĩ guitar nào muốn đấu võ vớI ông thì đúng là chán đờI không còn muốn nhìn mặt ngườI thân nữa. Thế là Nguyễn Tỵ cũng có 2 cái nhất. Tính ông thích đùa, ngườI cao, đầu dài hay độI mũ phớt, thích lên là cườI ha hả, sống cũng la đà trong cả giớI văn và võ, tuy không tỏ ra hờm hờm như những ông thầy võ khác nhưng vẫn oai như thường. Mấy bài võ ông viết ra có hệ thống, trở thành giáo khoa của môn phái. Môn phái Nam Hồng Sơn theo tôi được biết thì nổI tiếng có Thất Tinh quyền.
Lão võ sư Nguyễn Văn Thơ (chưởng môn Thiếu Lâm Sơn Đông)
Sinh ra và lớn lên trên miền quê Thái Bình, cậu bé chỉ có cái tên duy nhất Nguyễn Văn Thơ bố mẹ cho để làm vốn. 12 tuổI, cậu bé lê bước chân non tơ vào đờI, theo chân đoàn Sơn Đông mãi võ đi khắp 3 nước Đông Dương. Khi sức vóc ngày một lớn, việc đánh trống của Thơ được thay bằng đôi bồ chứa vật dụng mãi võ kẽo kịt trên đôi vai để mỗI khi đêm về, võ sư Trần Vi Xềnh truyền dạy những tuyệt học của Thiếu Lâm Sơn Đông cho chàng. Trước hết chàng được học về quyền pháp: Mai hoa, Liên hoa, Hỗn nguyên, Lục bộ, Hồng quyền… rồI đến đoản đao, song kiếm… NgườI ta biết đến Nguyễn Văn Thơ qua các màn biểu diễn công phu như: dùng búa đập đá đặt trên đầu, trên mặt, tay không chặt bể trái dừa, dùng giáo nhọn đâm vào yết hầu…
Năm 1938, võ sư Nguyễn Văn Thơ dừng gót chân phiêu bạt của mình ở Hà NộI và mở lớp dạy Thiếu Lâm Sơn Đông. VớI một phương pháp huấn luyện và kỹ thuật biểu diễn hoàn toàn mớI mẻ, chẳng bao lâu, danh tiếng của lão võ sư cùng cùng Thiếu Lâm Sơn Đông đã trở nên quen thuộc khắp vùng. Song song vớI việc dạy võ thuật, võ sư Nguyễn Văn Thơ còn tham gia tranh tài cùng nhiều cao thủ xứ Bắc. Ngày 1/3/1954, một trong những ngày đáng nhớ nhất của võ sư Nguyễn Văn Thơ - đoạt giảI nhất trong cuộc thi đấu võ đài toàn miền Bắc. Kể từ những năm 80 trở lạI đây, khi phong trào võ thuật ở Hà NộI phục hồI, lão võ sư Nguyễn Văn Thơ cũng không quản tuổI già, tham gia một cách tích cực. Ngoài việc dạy võ tạI nhà riêng ở số 244, phố Lương Yên, tổ 1, đường Hai Bà Trưng, Hà NộI, lão võ sư còn trực tiếp tham gia hộI diễn võ thuật khu vực phía Bắc và toàn quốc, 3 lần đoạt huy chương vàng (kiếm 2 lần và Trung bình tiên 1 lần). Bên cạnh ông giờ đây còn có những cao đồ như các võ sư Nguyễn Văn Hùng, Giang Long Phúc, Nguyễn Thành Trung… đang truyền dạy và xiển dương những tuyệt học của Thiếu Lâm Sơn Đông
Lão võ sư Hoàng Thanh Vân (chưởng môn phái Hoa quyền)
Lão võ sư Hoàng Thanh Vân (chưởng môn phái Hoa quyền)
Sinh năm 1922 tạI Hưng Yên, trong 1 gia đình có truyền thống thượng võ, cha của lão võ sư là ông Hoàng Văn Thơ, vốn là nông dân nghèo phảI đi làm thuê ở nhiều nơi vùng Bắc Bộ để kiếm sống, nhờ đó mà ông đã có dịp học võ vớI nhiều thầy (ngườI Việt và ngườI Hoa) ở nhiều vùng khác nhau. Đến khi ông truyền dạy sở học võ thuật của mình lạI cho lão võ sư Hoàng Thanh Vân khoảng từ năm 1930 đến năm 1950, ông bảo rằng đó là võ thuật Hoa quyền của dòng họ Hoàng. Lão võ sư cứ theo đó mà gọI môn phái của mình là Hoa quyền suốt.
Môn phái Hoa quyền có phần cơ bản công rèn luyện “thập hình” (thủ, nhãn, thân, yêu, túc, thức, khí, đảm, khí, kình, thần) vớI quỹ thờI gian khoảng 3 năm. Sau đó, môn sinh sẽ bắt đầu được truyền thụ 18 bài Hoa quyền, cùng các loạI binh khí như: kiếm, côn, đao, song ngư, lưỡng đầu thiết lĩnh, cửu khúc nhuyễn tiên, song phủ, song chùy, thiết phiến (quạt) và các bài đốI luyện có quy ước (tay không và vũ khí). Đặc biệt, trong vốn liếng sở học của phái Hoa quyền còn có những bài võ truyền thống Việt Nam như Ngọc trản, Lão mai, Thần đồng, Xung thiên đạo đao, Gươm trường thảo pháp và 3 bài côn.
Trong phong trào võ thuật cổ truyền tạI Hà NộI từ sau ngày đất nước thống nhất, lão võ sư đã có những đóng góp nhất định trong việc đào tạo nhiều môn sinh giỏI, đạt những thành tích cao trong các giảI võ cổ truyền tổ chức tạI thủ đô trong những năm qua.Bản thân lão võ sư cũng đã từng đạt HCV trong 1 lần dự giải. Ngoài ra, năm 1990, lão võ sư còn được mờI sang CHLB Nga để truyền dạy võ thuật.
Hiện nay, mặc dù tuổI đã cao, nhưng lão võ sư Hoàng Thanh Vân vẫn thường xuyên luyện tập cũng như truyền dạy cho thế hệ trẻ tạI nhà riêng của mình số 39, phố Quang Trung, gác 3, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Những danh nhân võ thuật từ xưa đến nay!
Xiển dương võ học:
Để thử tài Vịnh Xuân, trong 3 năm (1983-1986), cả trăm cao thủ cả Tây, Tàu, lẫn Ta đều tìm đến thách đấu. Kiên nhẫn chốI từ nhưng không phảI lúc nào cũng thành công, nhiều lần võ sư Nam Anh và các học trò ông đã phảI đành lòng chấp nhận – và toàn thắng - chỉ phiền nỗI mỗI lần như vậy, ông phảI làm đơn trình báo công an và chính quyền địa phương.
Võ học thâm như Đông HảI
Siêu quần võ sĩ đa thị sa số hằng hà
Trương Tòng Phú
Nể phục thì nhiều, nhưng ngườI thực sự để đạI sư Nam Anh phảI thay ấn tượng và thay cả một nếp nghĩ là võ sư Hàng Thanh, một ngườI bạn cố tri của ông. Được mệnh danh là Thiết Sa chưởng. võ sư Hàng Thanh từng biểu diễn nhiều lần cho xe tảI hạng trung cán qua ngườI mà không cần lót ván ở cả 3 tư thế nằm sấp, nằm ngửa, nằm nghiêng… Là con nhà võ nhưng bề ngoài vị võ sư này cực kỳ đỏm dáng và chảI cuốt, thường ăn mặc như tài tử xinê vớI đồ vét trắng thắt nơ, đầu xịt keo bóng lộn và dầu thơm điếc mũi. Đã thế, Hàng Thanh lạI rất hay kể những chuyện rất “trờI ơi, đất hỡI”, kiểu như có lần ông đang ngồI uống cà phê, chợt thấy học trò khắp nơi kéo tớI đông ngìn nghịt, thì ra “hào quang tỏa ra chói sáng cả một vùng, học trò biết ngay đó là chỗ thầy ngồI nên kéo tớI thăm…”!
Bình thường, lúc vui vẻ, đạI sư Nam Anh thường lấy chuyện ạy để chế giễu ông bạn vui của mình. Một lần, trong quán ăn, cô phục vụ đã vô ý đổ nguyên tô phở nóng lên đầu võ sư Hàng Thanh, bún, nước lầy lụa cả bộ đồ vét trắng. Thay vì nổI giận, vị võ sư đỏm dáng chỉ điềm nhiên vuốt những cọng bún, mỡ, hành bám trên áo rồI tỉnh như không, tiếp tục ngồI ăn, không một lần trách cứ. Chỉ đạI cao thủ mớI “thường” trước “vô thường” như thế. ĐạI sư Nam Anh thầm phục, tự nghĩ: về chữ “Nhẫn” bản thân ông còn thua bạn rất xa. Từ đó, ông tuyên bố bỏ ngoài tai mọI lờI thách thức và cấm tiệt học trò Vịnh Xuân nhận lờI giao đấu vớI bất kỳ ai.
Năm 1986, đạI sư Nam Anh sang Canada định cư để tiếp tục học lên tiến sĩ Luật khoa. TạI đạI học Montréal, sau nhiều thử thách khắt khe và không ít rắc rốI, ông được trường này tiếp nhận đồng lúc 3 chức danh giáo sư ở ba khoa: Luật, Thể dục thể thao và Cận y khoa. Võ đường của ông đã nhanh chóng được hàng trăm sinh viên đa quốc gia theo học, nhiều ngườI đã đạt đến trình độ Hồng đai tứ đẳng Vịnh Xuân, tiếp tục thay ông phát triển Vịnh Xuân ra nhiều nước trên thế giớI, trong đó có Pháp, Mỹ, Nga… Từ Ấn Độ, Pakistan và cả Trung Quốc, nhiều võ sư Vịnh Xuân chân truyền cũng bái phục, xin được theo học ông để nâng cao trình độ. Do điều kiện, ông không từ chốI, nhưng đành phảI giớI thiệu họ về Việt Nam cho võ sư Phạm Chí Điện, quán trưởng võ quán Nam Chánh Trực (Q.8) và võ sư Nguyễn Văn LợI, cả hai đều là truyền nhân Vịnh Xuân đờI thứ 8 và đều gọI đạI sư Nam Anh bằng Sư Công để 2 võ sư này bổ túc trình độ cho các võ sư đồng môn ngoài nước.
Trình độ và uy tín của vị đạI sư ngườI Việt này cao đến nỗI, sau sự kiện ngày 11-9, Đài truyền hình Montréal đã mờI ông lên nói chuyện và con đường kiềm chế bạo lực cho 25 triệu khán giả của đài nghe.
Thành công nơi đất khách là điều không dễ đạt. Thấu hiểu điều đó, trong nhiều năm qua, đạI sư Nam Anh đã mở thêm 2 trung tâm: 1 tư vấn luật, 1 dạy Anh – Pháp ngữ cho ngườI Việt nhập cư nghèo tạI Montréal. Ngoài chức danh chủ tịch Liên đoàn quốc tế Vịnh Xuân chính thống phái, đạI sư Nam Anh còn là ngườI sáng lập và giữ chức chủ tịch hộI Án ma nã (châm cứu xoa bóp) đông y tỉnh Québec, để phục vụ đồng bào ngườI Việt nơi xứ người. Những đóng góp của ông đã được chính phủ Canada đánh giá cao. Bộ nhập cư Canada đã ký quyết định trao bằng tưởng lệ ông; Đảng cầm quyền của cựu thủ tướng Canada Lucien Bouchard đã chính thức mờI ông tham gia nhóm cố vấn cho chính phủ nước này . VớI tất cả niềm kiêu hãnh, vị đạI sư ngườI Việt đã cảm ơn và từ chốI những vinh dự này. Ông nói: “Tôi là ngườI Việt Nam, dù đi bất cứ đâu, làm bất cứ việc gì, trái tim tôi vẫn luôn hướng về đất Việt. Giúp đỡ đồng bào và làm rạng danh Tổ quốc đó là nghĩa vụ mà bất cứ ai cũng nên cố gắng làm, chứ không vì vinh quang và sự tưởng thưởng”.
Sau vô vàn những thăng trầm, vị đạI sư lừng lẫy mớI tìm được cho mình một tổ ấm đích thực vớI ngườI vợ trẻ - Hoa hậu điện ảnh Việt Nam kiêm Á hậu thờI trang châu Á Nguyễn Thị Thanh Xuân – và 2 đứa con nhỏ. Tết vừa rồI, gia đình ông về quê ăn Tết tạI Việt Nam. Ông đang ấp ủ dự định về sống hẳn và xây dựng trung tâm Vịnh Xuân tạI Việt Nam, biến quê cha đất tổ thành mảnh đất hành hương cho các cao đồ Vịnh Xuân toàn thế giới.
Không huy chương, không lưu danh bằng kỳ tích, cũng không dự định dùng võ thuật để lập chiến công hiển hách, đạI sư Nam Anh chỉ quan niệm đơn giản rằng, hiểu bản thân là “Anh”, vượt qua chính mình là “Hùng”. Anh Hùng là ngườI hiểu và luôn tìm cách để tự thắng mình.
Trên đây, tôi đã giớI thiệu cuộc đờI của một vị đạI sư mà theo tôi là một trong những ngườI giỏI Kungfu nhất thế giớI hiện nay. Nếu ai muốn học Vịnh Xuân Nam Anh kungfu thì liên lạc vớI huynh nbs191 để huynh ấy dẫn đi học ở võ quán Nam Chính Trực, ngoài ra còn một chỗ khác cũng dạy Vịnh Xuân Nam Anh kungfu là 179 Hoàng Văn Thụ (đốI diện siêu thị miền Đông).
Võ sư Đông Hải - Hư Linh Tử
Võ sư Đông Hải - Hư Linh Tử (chưởng môn phái Long Hổ Không Hồng)
Thầy Vạn Thanh tên thật là Nguyễn Đông Hải, còn rất trẻ, chỉ mới 35 tuổi, sinh ở xã Nhơn Hoà, huyện An Nhơn, Bình Định. Năm 12 tuổi, Đông Hải đã thí phát xuất gia vào chốn cửa thiền. Sư phụ Tịnh Quang lúc ấy chỉ nhận vỏn vẹn hai đệ tử, một là Vạn Lạc hiện đang trụ trì chùa Lộc Sơn, và người thứ hai tên là Vạn Thanh.
Sau 4 năm chuyên tâm học kinh kệ, một đêm nọ Vạn Thanh được sư phụ gọi riêng ra và bảo :"Thầy thấy con có tư chất, tính tình điềm đạm, không khoe khoang, có thể học võ được. Nhưng điều quan trọng nhất là con có thích học không?". Vạn Thanh đáp: "Được thầy thương truyền dạy con rất thích ạ". Thế là lúc nửa đêm, một thầy một trò huỳnh huỵch luyện thập bát ban. Xen giửa những buổi thị phạm là những bài học khẩu quyết bằng tiếng Hán cổ, là những lần thầy cầm tay trò rị mọ tô theo từng nét bút những chữ Hán loằng ngoằng, là những câu chuyện về lai lịch của "Lục tướng tằng vương phổ minh binh thư chiêu pháp" lẫn xuất xứ của môn phái Long Hổ Không Hồng.
Vào thời Hậu Lê, ở kinh thành Thăng Long có một nhà sư rất giỏi võ nghệ. Ông đã bỏ công suốt một đời để lặn lội sưu tầm góp nhặt binh thư võ thuật của các bậc danh tướng. Với sở học của mình cộng với những gì sưu tầm được, ông soạn ra pho bí kíp "Lục tướng tằng vương phổ minh binh thư chiêu pháp" (tạm dịch nghĩa là: sao chép binh thư võ thuật của những vị tướng qua nhiều đời khác nhau). Hoàn tất pho sách, sợ bị thất truyền, ông lập ra môn phái Long Hổ Không Hồng: Long và Hổ tượng trưng cho "uy" và "mãnh"; không hồng là bao la như ánh mặt trời. Theo môn qui của Long Hổ Không Hồng, mỗi đời chỉ truyền dạy cho một đệ tử, và tên hiệu của những người trong môn phái phải bắt đầu từ chữ "Hư". Nhà sư sáng lập Long Hổ Không Hồng có tên hiệu là Hư Minh. "Lục tướng tằng vương..." ghi lại rất nhiều những bài võ của các danh tướng Việt Nam như Đinh Bộ Lĩnh (Đinh), Lê Hoàn (Tiền Lê), Lý Thường Kiệt, Tô Hiến Thành (Lý), Trần Hưng Đạo, Trần Nhật Duật, Phạm Ngũ Lão (Trần)...
Chiến tranh loạn lạc thời Trịnh - Nguyễn phân tranh khiến đệ tử các đời của Long Hổ Không Hồng đi dần xuống Nam, và đến thời nhà Tây Sơn thì đã truyền được đến đời thứ tám cho Nguyễn Trung Như với tên hiệu là Hư Linh Ẩn. Sau khi Gia Long diệt được Tây Sơn, bộ "Lục tướng tằng vương..." bị hủy diệt như số phận chung của những pho sách võ khác của đất Bình Định. Và kể từ đây nó chỉ được truyền lại qua trí nhớ của các đời đệ tử Long Hổ Không Hồng. Tính đến thượng tọa Thích Tịnh Quang là đời thứ 12 với tên gọi Hư Linh Thông (đã mất năm 1990), và truyền nhân đời thứ 13 chính là Vạn Thanh - Hư Linh Tử.
Dù chỉ được truyền lại qua khẩu quyết, nhưng "Lục tướng tằng vương..." cũng được Hư Linh Tử ghi lại gần 150 bài. Tuy nhiên, để nắm hết được lẽ huyền diệu của pho bí kíp này, anh biết mình còn thiếu: vốn chữ Hán cổ còn yếu, sở học về triết lý phương Đông còn non. Thế là năm 26 tuổi, Hư Linh Tử một mình một tay nải vào Sài Gòn tìm học ở khoa Đông Nam Á các trường đại học Sư phạm, Tổng hợp.
Sau hơn 4 năm đèn sách, Hư Linh Tử đã dần dần lĩnh hội được sự ảo diệu của "Lục tướng tằng vương...", mới thấy được thế nào là trong hư có thực, trong thực có hư của bài "Nghiêm thương" (tương truyền của Nguyễn Huệ) mà trong bí kíp gọi là "sinh linh thao", thế nào là sự cương trực của bài "kích sinh thao", thể hiện trong bài "Lôi long đao" tương truyền của Trần Hưng Đạo. Giờ đây, anh cũng mới thấu hiểu mỗi bài võ trong "Lục tướng tằng vương..." đều có hai mục đích: 1- Được áp dụng cho chiến trận khi nhìn nó dưới góc độ của bát quái đồ hình dựng, 2- Một bài múa biểu diễn, rèn sức khoẻ khi tập theo bát quái đồ hình nằm.
Năm 1997, tròn 30 tuổi, Vạn Thanh - Hư Linh Tử hết duyên với cửa Phật. Anh hạ sơn và từ đây trở thành võ sư Đông Hải - Hư Linh Tử. Cuối năm 1999, Đông Hải - Hư Linh Tử về làm huấn luyện viên trưởng đội tuyển võ cổ truyền của Sở Thể dục thể thao Bình Định. Bao nhiêu sở học nắm được từ "Lục tướng tằng vương..." anh dốc hết cho các học trò, và đem lại rất nhiều huy chương vàng quốc gia. Chưa kể khá nhiều các đệ tử của anh đã đi biểu diễn võ cổ truyền Việt Nam tận Ấn Độ, Tây Ban Nha, Nga... Từ lò võ chùa Long Phước đã lần lượt xuất hiện hầu hết các võ sĩ cho đội tuyển võ cổ truyền Bình Định (luôn chiếm tỷ lệ 80% cho đến tận bây giờ) với những tên tuổi thành danh tại các giải vô địch quốc gia như Nguyễn Đức Thắng với bài U Linh Thương (thời Lý), Nguyễn Văn Cảnh với bài Tru Hồn Kiếm (thời Lý), Võ Văn Tính với bài Chấn Lôi Âm Tiên (thời Hậu Lê), Trần Duy Linh với bài Lôi Long Đao (thời Trần)...
Võ sư Nguyễn Khắc Phấn (chưởng môn Thiên Đạo Môn)
Võ sư Nguyễn Khắc Phấn (chưởng môn Thiên Đạo Môn)
Đó là một chàng trai làng ở Hòa Nam đậm đặc, nói giọng dấu ngã thành dấu sắc, gọI học võ là “học vó”, gọI cái môn thượng thặng Lão nhân quá giang là “láo nhân”. Diện mạo khá kỳ quái: búi tó củ hành to và dày ở đỉnh đầu, tóc xõa xuống hai bờ vai lượn bồng bềnh; râu dài, rậm và hung hăng như thể đã ngả màu muốI tiêu của ngườI có tuổi. Vóc nhỏ, rất gầy, ăn thì cái gì cũng thấy …kiêng, hiếm có thờI gian trọng lượng vượt quá 55 kg. Lúc đem các võ sinh ra đài, “sư phụ” bèn bỏ củ hành xuống, trông oai dũng va 2kỳ bí. Hiện nay, anh đang theo học trong một lớp tạI chức của đạI học Thể dục thể thao, thị xã Hà Đông.
Võ sư đã có một thờI tuổI trẻ lang bạt giang hồ. Từng buôn vảy tê tê bán cho Tàu; làm thuốc gia truyền bán cho các ông chủ ở Hà NộI; đi đào đá đỏ tạI cái vựa rubi lớn nhất Việt Nam ở Lục Yên, Yên Bái; theo cánh buôn bán giang hồ đi hàng ở tận Mù Cang ChảI; chạy gỗ đường dài dọc sông Đà… Có những lần bị chúng rủ rê phiêu bạt, mà chính anh cũng không biết mình đã đi đâu, làm gì. Kể cả khi “chúng nó” dùng gái đẹp và thuốc phiện để gạ gẫm, anh vẫn trơ trơ. Hằng đêm, dọc ghềnh thác sông Đà, anh … luyện võ công. Thế rồI cái thờI ấy cũng nhanh chóng qua đi. Năm 1993, sư phụ mất, chính thức trở thành võ sư trụ trì, anh Phấn nghiêm túc kết thúc thờI phiêu lãng, kiên quyết phát tirển môn phái.
Thu nhập chính của anh hiện nay vẫn là thầu ao cá, thầy trò cắt cỏ, thái thân cây chuốI vứt xuống cây cho cá ăn. Vốn thanh niên tính, anh thích chơi xe máy, đến đàn chó canh xung quanh võ đường cũng toàn mang tên Dream, Win, Longcin,…TạI võ đường chính của Thiên Môn Đạo, số lượng võ sinh đã lên tớI 2000 người. Chưa kể số lượng ngườI học tạI các câu lạc bộ mở khắp nơi.
Ở đây, tôi xin kể ra một số tiết mục biểu diễn công phu của Thiên Đạo Môn, nghe nói sau khi VTV chiếu các màn công phu của võ phái này, thanh thiếu niên ở Hà NộI đăng ký học đông lắm.
· Tán đinh bằng inox vào ngực (xuyên kim nộI nhục)
· Uốn cuộn sắt to bằng ngón chân cái quanh bụng, nằm tròn vo trong cái rọ lợn cho môn sinh khác dùng … răng nhấc bổng lên. (Khẩu lợI công)
· đẩy ô tô đi bằng một thanh sắt dí vào trán.
· lấy đá và bê tông kê lên đầu, lên bụng rồI đập vỡ tung tóe (Thạch đầu công)
· dùng cốI đá để lên trán và nện vỡ (Ngọa thiền thạch dương công)
· đập vỡ vỏ chai rảI thảm dướI lưng … võ sinh, rồI đặt gỗ và bê tông lên ngực cho… ô tô chèn qua.
· cắm sắt hay thanh kiếm vào các huyệt trọng yếu như đan điền và yết hầu rồI cứ thế xuống tấn đẩy ô tô bon bon. (Ngự thiết công)
· giơ ống đồng chân ra cho ngườI ta đặt bê tông vào rồI đập vỡ (Quy bốI cương cẳng công)
· giơ cánh tay ra, một ngườI dùng gậy vụt thẳng vào cánh tay đến … gãy gậy mà tay không hề gì. (Cương cánh công)
· chạy qua sông trên chiếu cói (Lão nhân quá giang).
Đặc biệt, hiện nay võ sư Nguyễn Khắc Phấn đang kỳ công luyện mấy chiêu mà sách vở cha ông để lạI (theo anh, võ đường gia tộc họ Nguyễn nhà anh đã truyền được 5 đờI). Đó là môn “Hóa pháp đạo xích”, nôm na là anh sẽ là một mắt xích trong cái sợI dây nốI giữa đầu máy vớI một cỗ xe tảI nặng vài tấn để rồI khi máy chạy, cả cỗ xe ngườI ấy chạy băng băng vớI tốc độ 60 – 70 km/h.
Thật ra các tiết mục công phu trên các môn phái võ cổ truyền nào cũng có cả. Chỉ có điều là không được đem lên truyền hình thôi. Bốn loạI công phu mà võ phái nào cũng có là Nhuyễn khí công, Ngạnh khí công, Khinh khí công và Đặc tuyệt kỹ. MỗI một môn phái đã chọn riêng ra những môn công phu phù hợp vớI lốI đánh, đặc điểm của phái mình. Quyền gia có câu: “Lực bất đả quyền, quyền bất đả công” (nghĩa là ngườI có sức không thể thắng nổI ngườI có võ, ngườI có võ không thể thắng nổI ngườI biết công phu). Chẳng hạn như môn “Hóa pháp đạo xích” trên kia, lão võ sư Hà Châu (Hồng gia quyền) đã từng biểu diễn, dùng 2 cánh tay nắm 2 chiếc xe đò đang chạy ngược chiều, tài xế đã nhấn hết ga, bánh xe quay vòng cháy cả mặt đường khét lẹt mà hai xe vẫn không sao chạy nổI, hay như tiết mục dùng tay xé đôi bộ bài 52 lá, gộp lạI rồI xé tiếp làm tư v.v… Các tiết mục Thạch đầu công, Cương cẳng công, Cương cánh công, Khinh công trên kia môn phái NộI gia quyền, Thiếu Lâm Sơn Đông, Tây Sơn Bình Định cũng có. Ông cố ngoạI của tôi (võ phái Tây Sơn) có thể nhảy một phát lên mái nhà không gây tiếng động, chạy trên cát không để lạI dấu chân v.v… Võ thuật cổ truyền hay và đẹp như vậy nên tôi nghĩ tạI sao chúng ta không học mà cứ học những môn của nước ngoài. Thật ra tôi biết rất nhiều về các phái võ Taekwondo, Karatédo, Jiu Jitsu, Judo, Aikido nhưng tôi ít viết lên đây vì mục đích của tôi là truyền bá võ Việt Nam. Mong là VTV sẽ chiếu nhiều hơn nữa về võ cổ truyền Việt Nam để mọI ngườI sẽ theo học đông hơn nữa.