Cố lão võ sư Đặng Văn Anh
Cố lão võ sư Đặng Văn Anh - chưởng môn Kim Kê Tây Sơn Nhạn
Phong vũ như mai
Kê minh bất kỷ
Kích kiến quân tử
Vân hồ bất hỉ
Đó là 4 câu thờ đề trên bức tranh vẽ “gà đứng trên đỉnh núi gáy vang”, đặt trên bàn thờ tổ tạI võ đường Kim Kê (đường HảI Thượng Lãn Ông, quận 5). Phù hiệu của môn phái cũng lấy hình ảnh “con gà đứng trên đỉnh núi gáy” làm biểu tượng. Nhưng tạI sao lạI gọI là Kim Kê?
Kim Kê có nghĩa là “gà vàng”, lấy từ bài Mai Hoa quyền. Trong bài Mai Hoa quyền có thể “Kim Kê Độc Lập” rất hay nhưng cũng rất khó đánh, vì lúc nào cũng phảI đứng trên một chân trụ. Ông Đặng Văn Anh hết sức mến mộ cái thế “Kim Kê Độc Lập” tuyệt chiêu này nên khi thành lập võ đường năm 1945, ông mớI lấy chữ “Kim Kê” đặt tên cho vọ đường của mình, sau này trở thành môn phái Kim Kê, vang danh suốt thập niên 60.
Ông Đặng Văn Anh sinh ngày 30-5-1921 tạI xã Phước Vân, huyện Cần Đước, Chợ Lớn. Năm 1942, ông thọ giáo vớI thầy Bùi Văn Hóa, thường gọI là Chín Hóa, tạI Chợ Quán (nay là trường Kim Đồng), thuộc môn phái Tây Sơn Nhạn, chuyên dạy Thiếu Lâm NộI Quyền. Cậu học trò Đặng Văn Anh rất sáng dạ, mau hiểu biết, chẳng bao lâu đã tinh thông thập bát ban, được thầy Chín Hóa cưng chiều và sau này giao quyền chưởng môn phái (khi ông Lưu Văn Liểng qua đờI).
Dù thọ giáo vớI thầy Chín Hóa nhưng thực sự gìong dõi của ông Đặng Văn Anh là giòng võ, nên khi thành lập môn phái Kim Kê, gia phả có ghi danh cụ cố Đặng Văn Thơ, ông nộI Đặng Văn Chương và cha là Đặng Văn Tưởng. Môn phái Kim Kê lấy “yên tự xà hành” làm thân pháp, “thôi sơn” làm thủ pháp, “Bình sa lạc nhạn” là cước pháp, “Mai hoa quyền”, “Kim kê quyền” làm quyền pháp, và nộI lực là “thuật cường thân”. Về binh khí là thập bát ban, chuyên về đao pháp. Trong thập niên (1965 – 1974), võ đường Kim Kê sản sinh ra khá nhiều võ sĩ tài danh, làm “mưa gió” khắp các võ đài Chợ Lớn, Gia Định và các tỉnh thành phía Nam; tất cả các võ sĩ này đều lấy họ “Kê” như: Kê Hoàng Long, Kê Hùng Sơn, Kê Minh Sơn, Kê Thắng Sơn, Kê Hoa Sơn (một năm “cáp” đến 20 độ, không thua độ nào). Thế hệ đào tạo sau 1975 cũng có nhiều môn sinh nổI tiếng, giành nhiều huy chuơng trong các giảI vô địch võ cổ truyền tp.HCM và toàn quốc như: Lê Đình Long, Nguyễn An Tâm Khánh, Trương Huỳnh Long, Lê Thị Ngọc Chi, Hoàng Hạnh Phúc, Phan Văn Trí Nhân, Dương Thị Thanh Trúc… ThờI trước, môn phái Kim Kê rất nổI tiếng trên võ đài, vớI các đòn sở trường “sát thủ giản”; những cú rờ-ve độc hiểm, không thiếu phần kỹ xảo; đòn “Thôi sơn” có pha quyền Anh); đòn “chân tiền cước” tương tự như Bàng long cước, thường đá liên hoàn (2 cú bồI là vô góc đài luôn, Kê Hoàng Hổ thường sử dụng đòn này để hạ địch thủ); riêng ngón “Bình sa lạc nhạn” cũng hay nhưng ít có võ sĩ áp dụng. Nếu có nghe ai nói: “có ông thầy đá trói rất hay” thì đó là ngón “Bình sa lạc nhạn”, khi đá trúng ngay “hồng hảI huyệt” hoặc “bạch hảI huyệt” (giữa bắp đùi, gần đầu gốI) địch thủ quỵ liền (nghĩa là tự trói mình vậy). Còn nói về đòn thế biểu diễn thì võ sư Đặng Văn Anh cho rằng: trình diễn hay đẹp là do ngườI thực hiện, chứ không có riêng đòn thế này hay, đòn thế kia đẹp, chẳng hạn như “yên tự xà hành” đi tiếp vớI “siêu phong hoán vũ” thì rất hay và đẹp.
Hiện nay, môn phái Kim Kê đang phát triển mạnh tạI tp.HCM và một số ít tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, đều do các học trò giỏI của võ sư Đặng Văn Anh quản lý đứng lớp, như:võ sư Đặng Kim Anh ở CLB Tinh Võ (quận 5), võ sư Nguyễn Đình Long ở CLB Tao Đàn (quận 1), HLV Lê Thị Ngọc Chi ở trường PTTH Hùng Vương (quận 5)…, võ sư Lâm Trọng Văn ở Mỏ Cày (Bến Tre), võ sư Vũ Quốc Hùng ở Cà Mau (Minh HảI)…
Sau khi lão võ sư Đặng Văn Anh qua đờI thì quyền chấp chưởng môn phái do võ sư Đặng Kim Anh (con của lão võ sư Đặng Văn Anh) đảm nhiệm. Võ sư Đặng Kim Anh hiện là HLV trưởng cho độI tuyển võ cổ truyền tp.HCM, và các học trò do thầy đào tạo luôn đoạt số huy chương vàng cao nhất qua các kỳ thi đấu toàn quốc, vượt qua cả Bình Định. Các bạn yêu thích Thiếu Lâm thực chiến quyền pháp có thể đến thọ giáo vớI thầy ở CLB Tinh Võ (quận 5) (tôi đã từng được thầy huấn luyện nên mớI dám mạnh miệng quảng cáo. Hì hì…).
Những danh nhân võ thuật từ xưa đến nay!
Cố lão võ sư Quách Văn Kế - sáng tổ Lam Sơn võ đạo
Năm 1897, cậu bé Quách Văn Kế đã chào đờI tạI Hà NộI, cậu học võ vớI thầy Hàn Bái, thầy Ba Cát và thầy Bảy Mùa, sau đó vào Sài Gòn năm 1930, và tiếp tục luyện tập võ nghệ vớI các võ sư miền Nam.
Từ năm 1939 đến 1945, Quách Văn Kế tham dự nhiều trận phục kích quân độI Nhật theo chiến thuật đánh đêm. Ngoài ra ông còn phụ trách việc huấn luyện thanh niên mặt trận ái quốc tạI sân vận động Hoa Lư và CLB Phan Đình Phùng (Sài Gòn).
Năm 1949, ông Quách Văn Kế mở lớp võ tạI đền Trần Hưng Đạo, quận 1, Sài Gòn và sáng lập môn phái Lam Sơn võ đạo. Năm 1960, ông trở thành chủ tịch Tổng cuộc quyền thuật. Đây cũng là năm đầu tiên tổ chức giảI vô địch Võ tự do tạI miền nam Việt Nam. Cũng chính năm này, một võ sĩ của Lam Sơn võ đạo được bước lên bậc cao nhất của bục danh dự. Trong quá trình huấn luyện, ông Kế đã đào tạo nhiều võ sư giỏI như Quách Phước, Nghiêm An Thạch (đang dạy tạI Pháp), Nguyễn Văn Du (Đồng Nai)… Năm 1967, ông Quách Văn Kế truyền nhiệm vụ chưởng môn Lam Sơn võ đạo lạI cho ngườI con út – Quách Phước và nốI gót các vị tổ sư vào năm 1976.
Ông Quách Phước - chưởng môn đờI thứ hia của Lam Sơn võ đạo
Ông Quách Phước sinh ngày 4/5/1933, là một trong năm ngườI con của ông Quách Văn Kế. Được cha truyền dạy võ nghệ, năm 18 tuổI, ông Phước đã là 1 HLV và sau đó tham dự các giảI vô địch ở miền Nam Việt Nam từ năm 1955 – 1957. Sau nhiều trận đấu, thắng nhiều dự ít, danh tiếng của ông đã được củng cố vững chắc.
Năm 1956, ông Quách Phước đương đầu vớI 1 thách thức - đấu luân phiên vớI 3 đốI thủ lão luyện. Biết rõ tài nghệ của các đốI thủ, ông Quách Phước loạI ngay khỏI vòng chiến đấu đấu thủ đầu hầu tiết kiệm sức lực. Ông thủ thế, tươi cườI chờ đốI thủ. Ngay khi đốI thủ tấn công, ông nghiêng mình ra đòn Bình Sa Lạc Nhạn, đánh gục ngay đốI thủ, phảI đưa vào bệnh xá. ĐốI diện vớI đốI thủ thứ hai, ông dùng thế hoành thân bí truyền từ thờI Lê LợI, khiến đốI thủ không đoán được thân pháp của mình, sau vài chiêu thức, ông dùng thế Kim Kê Độc Lập, tay trái hụp tay phảI đốI thủ, tay phảI đánh thẳng vào mặt, và dùng chân quét, hạ tiếp đốI thủ số 2. Đấu thủ thứ 3 là một ngườI vạm vỡ nặng 90kg, quen vớI lốI đánh cận chiến trong quân đội. Thấy ông Quách chuyên sử dụng đòn chân, y liền áp dụng lốI cận chiến, nhưng lạI rơi vào bẫy vì ông cố tình nhử đòn đốI thủ - sau vài pha né tránh để vào thế, ông để đấu thủ nắm bắt mình, liền thi triển mấy chiêu “Song long thần chưởng” bí truyền của môn phái. Đấu thủ bị trúng đòn liên tiếp, loạng choạng sắp ngã, liền được ông vực dậy đúng cung cách nhà võ.
Năm 1968, trong khi vẫn tiếp tục huấn luyện võ thuật tạI đền Trần Hưng Đạo, ông Quách Phước bắt đầu dạy vẽ tạI trường Mỹ thuật Gia Định – nơi ôn đã theo học năm 1953. Năm 1975, ông chuyển sang dạy hộI họa ở trường Trung học Sư phạm tp.HCM. Các tranh vẽ của ông được triển lãm nhiều lần tạI Việt Nam.
Năm 1981, ông mở 1 phòng tập nhỏ ở đình Nam Chơn, số 39 đường Trần Quang KhảI, vớI sự phụ tá của ngườI con trai – Quách Phát. Dù cơ sở vật chất khó khăn hay mưa gió, nóng nực, võ sinh Lam Sơn vẫn chuyên cần luyện tập vớI tinh thần “Dũng cảm và hi sinh”.
Ngoài quyền cước ra thì ông Quách Phát còn thành thạo về roi Cửu khúc, Phượng Hoàng trượng, Thương và Quách gia đạI đao. Đây là các ngón nghề của trường phái Lam Sơn…
8->
Cố lão võ sư Trương Chưởng - một bản lãnh nhân nghĩa
Cố lão võ sư Trương Chưởng - một bản lãnh nhân nghĩa
Căn nhà kiểu xưa cũ kỹ nằm trong 1 xóm nhỏ sau rạp chiếu bóng HộI An - vớI hai khoảnh sân cộng lạI chưa đầy một trăm mét vuông, tập luyện và dạy võ trên 50 năm của 1 bậc thầy tài danh và đức độ - võ sư Trương Chưởng. Thầy ĐộI Chưởng, ông Chín Chưởng là những tục danh mà hầu như bất kỳ ngườI dân nào ở phố cổ HộI An cũng đều nhắc đến vớI lòng kính trọng, nể vì và mến mộ.
Vóc dáng to tròn, tầm thước, đôi tròng mắt tròn to sáng màu xanh ngọc dướI hàng lông mày dài cong điểm trắng bộc lộ 1 ý chí sắt đá và lòng ngay thẳng. Ở tuổI thanh niên ông đã từng xông vào giảI cứu cho một ngườI thế cô bị hơn 20 ngườI thô bạo dùng đòn gánh vây đánh tạI một vùng quê Duy Xuyên. Đó là lúc lòng nhân ái, mưu trí và gan dạ giúp ông lách mình tránh né như chim và dùng thế “Đồng tử bái Quan Âm” lần lượt bẻ gãy, hất tung từng đòn gánh một. Đám ngườI hiếu sát mất vũ khí, hoảng sợ vộI vã chạy trốn. Từ sự việc này có ngườI đến thách ông thượng đài tranh cao thấp. Suốt cả đờI võ nghiệp ông không thượng đài và nghiêm cấm học trò thượng đài thi đấu, nhưng lần này sau nhiều lần từ chốI không được, ông nhận lờI giao đấu trên 1 võ đài rất đặc biệt: 1 bộ ván ngựa 9 mét vuông kê ở sân nhà ông giữa khán giả chỉ toàn là những võ sĩ của HộI An vào năm 1938. Khấu quyền, bắt bông, thốI bộ, thốI bộ, giả say trong thế “Tiên ông túy tửu” chỉ trong vòng chưa đến nửa phút, đốI phương bị ông hất văng xuống đất mà ngỡ ngàng như không tin vào việc xảy ra.
Một lần khác, không chịu được nỗI bất bình trước một tên quan ba ngườI Pháp đang đánh đập tàn nhẫn một anh đầu bếp Việt Nam, ông nhảy vào can thiệp. Tên quan ba rút súng định bắn ông. Không một chút do dự, ông tung liên tiếp hai ngọn “Bổng đả ba đào” đá văng súng và hạ gục hắn một cách chớp nhoáng để rồI từ đó hiểu ra cái nhục của một ngườI dân nhược tiểu mất nước. Ông đã chon con đường đi theo tiếng gọI của non sông – hòa vào dòng ngườI như thác lũ từ các huyện rầm rập kéo về tỉnh lỵ HộI An truy điệu cụ Phan Châu Trinh; tiễn đưa ngườI con trai duy nhất ra Bắc… Năm 1954, ông ở lạI HộI An làm cơ sở cách mạng, hoạt động bí mật và dạy võ để qua mắt chính quyền đương thời. Sáng mùng một Tết 1964 truyền đơn Cách mạng rảI khắp các đường phố chính HộI An và rồI cơ sở bị lộ. Ông bị bắt nhiều lần rồI nhiều lần được thả ra vì địch không đủ chứng cớ trước sự khôn khéo của ông, vừa sợ uy tín của ông trong đồng bào HộI An.
Hằng ngày, ông luyện tập, nghiên cứu, dạy học trò, viết sách y võ, vừa ngâm chế thuốc để giúp đỡ miến phí cho bà con khi gặp ốm đau, tai nạn. Ông đặc biệt ham thích, nghiên cứu và chữa bệnh bằng phương pháp xoa bóp, day huyệt. “Án ma pháp” được ông soạn thảo và truyền dạy cho học trò bằng kinh nghiệm thực tế bản thân. Trên bảy mươi tuổI, ông vẫn kiên trì luyện phất tay, Bát đoạn cẩm mỗI sáng, Thiết Sa Chưởng vào buổI trưa và tối. Ông giảng dạy vớI niềm say mê tột cùng. Học trò nào càng trì chí, đam mê ông càng ra sức truyền thụ tuyệt nhiên không giấu diếm. Tháng 8/1973, võ đường Kỳ Sơn được ông thành lập và trực tiếp giảng dạy đến năm 1985.
Năm 1988, lúc 90 tuổI, ông qua đờI tạI thị xã Tam Kỳ, nhưng gia quyến, học trò và rất đông nhân dân HộI An đã đưa linh cữu ông về an táng tạI HộI An, nơi mà ông đã gắn bó trên 50 năm để dạy võ và hoàn thành những ước nguyện của đờI mình. Sáu năm sau, năm 1994, bài “Lão mai quyền” do ông truyền thụ đã được học trò của ông trình bày trong HộI nghị chuyên môn toàn quốc và đã được Liên đoàn võ thuật cổ truyền Việt Nam sử dụng làm bài quy định cho cả nước học tập và hộI thi.
Hiện nay, trong căn nhà mà ông đã sống hơn 50 năm ấy vẫn là võ đường Kỳ Sơn như ngày nào và vẫn còn bức hoành cũ kỹ chạm vàng 3 chữ “SƯ TRƯƠNG KIẾT” mà ngườI đờI đã lưu tặng để ghi nhớ ơn ông.
Võ sư Liên Văn Răng – sáng tổ Âm Dương võ phái
Võ sư Liên Văn Răng – sáng tổ Âm Dương võ phái
Võ sư Liên Văn Răng là một ngườI rất xuề xòa, vui vẻ, khiêm tốn, coi mọI việc ở đờI không có gì quan trọng, thích ngườI ta gọI mình bằng tiếng xưng hô thân mật: “Anh Năm”. Năm 1969, anh mớI ba mươi mấy tuổI mà đã giữ chức vụ võ sư Phó trưởng ban huấn luyện của Tổng hộI võ học Việt Nam.
Năm 1970, báo Võ Thuật có đăng một bài giớI thiệu môn võ mớI do anh sáng lập: DỊCH VÕ ĐẠO.
Năm 1971, Huỳnh Ninh Sơn (tức Hùng Phong), cũng là một thân hữu trong làng võ vớI anh Năm, lạI cho rằng cái tên DỊCH VÕ ĐẠO là do Sơn đặt trước cho môn võ của mình. VớI tánh xuề xòa cố hữu, anh Năm nói rằng “cái tên” là do con ngườI đặt ra để chỉ một sự vật, chẳng có gì quý báu, Sơn thích cái tên ấy, cứ lấy. Từ đó, anh Năm đổI tên môn võ của mình thành ÂM DƯƠNG VÕ PHÁI.
Thật ra, “Âm Dương” chính là tên võ đường của anh Năm, đặt tạI nhà riêng, trong một căn hẻm nhỏ, ngoằn ngoèo tạI đường Hòa Hưng, tp.HCM. Sau năm 1975, mọI hoạt động võ thuật đều tập trung tạI các CLB, anh Năm, các con và học trò đều sinh hoạt trong HộI võ cổ truyền thành phố, “bảng hiệu” tạI nhà được gỡ xuống.
Anh Năm ít khi nói về “cái tôi” của mình mà chỉ say sưa bàn chuyện võ nghệ. Anh sinh tạI xã Linh Chiểu, huyện Thủ Đức, con một trong một gia đình lao động. Thân phụ qua đờI lúc anh mớI lên 10. Năm 15 tuổI, vớI đôi bàn tay trắng, anh đã phảI tự lực cánh sinh. Dẫu phảI lăn lộn gian khổ ngoài đờI để kiếm miếng cơm manh áo, anh cũng không quên rèn luyện võ nghệ, say mê học hết môn này đến môn khác, thâu thập cả tinh hoa võ dân tộc và võ Trung Hoa, rồI đi dạy võ, và ngày đêm suy nghĩ, nghiên cứu về dịch lý và võ học. Hai mươi năm trôi qua… Một ngày kia, anh “hoát nhiên đạI ngộ” được lẽ biến động của vũ trụ và nhân sinh mà sáng tạo ra môn DỊCH VÕ ĐẠO – bây giờ gọI là ÂM DƯƠNG VÕ PHÁI.
Sau bao nhiêu năm lao tâm khổ trí vớI bao nghi vấn về DỊCH và VÕ, ngườI võ sư trẻ bỗng bùng vỡ được “công án” của mình khi thấy: “… một đứa trẻ phạm lỗI, ta giơ roi dọa đánh, thì nó tự động ẹo mông”. Đó chính là phản ứng tự nhiên của con ngườI dựa trên nguyên tắc “tùy cơ ứng biến” chứ không dùng một đòn khắc chế.
Cảm thông được nguyên lý trên, anh tiếp tục nghiện cứu mọI khái niệm cốt tủy của Kinh Dịch để : “… thấu hiểu nghĩa tinh vi, vào đến chỗ thần diệu mà sử dụng đến cùng…” như Hệ Từ Thượng nói. Và anh bắt đầu áp dụng Lý Dịch vào võ thuật, nói chung, vào động tác của cơ thể.
Theo Kinh Dịch, mọI sự mọI vật trong trờI đất không có vật nào, sự gì không có hàm chứa mâu thuẫn bên trong. Về võ thuật, có hai chủ trương chính là Cương và Nhu. Trên thế giớI, có môn quá thiên về Nhu, môn khác lạI ngã về Cương, lạI có môn Cương Nhu phốI triển.
Anh vỡ được đạo Cương – Nhu qua quái Khảm, Ly trong Bát quáiluận về đạo nước lửa. Quái Ly, hai hào sơ, thượng Dương bao ngoài, còn hào chính Trung là hào âm, nghĩa là ngoài thì Thực mà trong thì Hư. Thể của nó là Âm mà dụng của nó thì Dương.
Quái Khảm, hai hào sơ, thượng Âm bao ngoài, còn hào chính trung là hào Dương, nghĩa là ngoài thì Hư mà trong thì Thực. Thể của nó là Dương mà dụng của nó là Âm. Dựa vào lý của hai quái trên, anh suy ra nguyên lý: trong Cương có Nhu, trong Nhu có Cương.
Tất cả các đòn thế của Âm Dương võ phái, những bài thảo và những binh khí cổ điển đều tuân theo nguyên tắc căn bản: “Âm Dương, Cương Nhu, Thực Hư”. Tất cả các thức thế, từ thức căn bản đến chính thế, kỳ thế, biến thế, hộ thế đều được đặt cho danh từ kỹ thuật theo sự biến động của mọI sự mọI vật, các danh nhân lịch sử cùng những địa danh trong nước và danh từ Dịch Lý.
Chẳng hạn, trong bài “Tứ Linh Quyền” có những thế được nghiên cứu trong Bát quái thuần càn như: Tiềm Long vật dụng, Hiển Long tạI điền, Long dược tạI uyên, Phi long tạI thiên, Kháng Long hữu hốI, Quần Long vô thủ (rất giống vớI tên các chiêu thức của Giáng Long thập bát chưởng của Hồng Thất Công).
Đòn thế của Âm Dương võ phái rất uyển chuyển, mềm mạI, chú trọng di chuyển, tránh né, đỡ đòn địch theo những đường vòng, chéo góc, rồI nhẹ nhàng phản đòn, chứ không “dùng sức chọI sức”, để làm sao cho “ngườI sức 1 có thể đánh thắng ngườI sức 10”.
Hiện nay, Âm Dương võ phái đã có những bước phát triển, đạt nhiều huy chương trong các HộI diễn võ cổ truyền
Sấy Bạc - chưởng môn Nam quyền Thái Lý Phật ở Việt Nam
Sấy Bạc - chưởng môn Nam quyền Thái Lý Phật ở Việt Nam
Trung Hoa – năm Dân quốc thứ 4.
Ngày ấy, bóng ma nha phiến chiến tranh vẫn còn vương vất đâu đó trên thân gầy đất nước Trung Quốc. Những cơn lốc thổI qua vùng Lưỡng Quảng đã manh nha nhuộm màu tang tóc của chiến tranh. Nơi thôn xá, các cuộc tranh chấp giữa các tộc họ vẫn liên tục xảy ra. Cũng ngày ấy, năm Dân quốc thứ 4 (1915) tạI Đặng gia thôn, huyện Phan Ngư, tỉnh Quảng Đông, ông Đặng Tây (Tằng Sấy) đã ra đời.
Khi còn niên thiếu, Tằng Sấy cũng bị lôi kéo vào những cuộc bạo hành tập thể. Có không ít ngườI đã mất mạng bởI vì tranh chấp một luống đất hay hàng lúa. Để đốI phó vớI nhau, Đặng gia thôn và mọI gia thôn đều khuyến khích con em học võ. Cũng chính điều kiện ấy đã bộc lộ một tư chất võ thuật trong con ngườI Tằng Sấy. NgườI khai tâm Hồng gia quyền trong Tằng Sấy chính là ông chú ruột Đặng Tân.
Lúc này, tạI Quảng Châu (thủ phủ tỉnh Quảng Đông) một con ngườI đã vẫy vùng bốn phương vớI tên gọI “Thần thủ Đàm Tam”. Ông là một đệ tử chân truyền bởI sáng tổ Trần Hưởng và Trương Hồng Thắng, hai ngườI đã có công tích hợp Thái Gia Mã, Lý gia quyền và Phật gia chưởng thành danh môn Thái Lý Phật ngày nay. Danh tiếng Đàm Tam đã nuôi trong ông Đặng Tân ước mơ gửI Tằng Sấy đến được bái Đàm Tam làm sư phụ. CuốI cùng thì ngày ấy cũng đến.
Quảng Châu và cuộc đờI tha hương
Nhà họ Đặng còn có một ước mơ lớn hơn là làm sao đưa con cháu dần xa nơi thôn dã để về phố thị học hành mà tiến xa. Tằng Sấy cũng đi theo ước nguyện ấy vớI lờI dặn dò: “Hãy để A Sấy tớI thọ giáo Đàm sư phụ!”.
Ông Đặng Tân đã dặn chị mình như vậy khi bà từ Quảng Châu về để dắt Tằng Sấy đi. Quảng Châu đã đón cậu bé 8 tuổI Tằng Sấy về vớI Đàm sư phụ rồI tiễn chàng thanh niên 17 tuổI ra đi, đi mãi về phương Nam khi cơn lốc chiến tranh nghiệt ngã ào đến vào năm 1932. Phát xít Nhật vào Trung Quốc.
NỗI cô độc đất Sài Gòn
Đến Sài Gòn, Chợ Lớn, Tằng Sấy chỉ vỏn vẹn một tay nảI lép xẹp. Nhưng trong anh còn có một chí lớn trong dòng máu vốn nhẫn nạI, siêng năng của ngườI Trung Quốc. Anh đan giỏ kiếm sống ở phường 6 quận 11 bây giờ. RồI anh học làm thợ mộc. Anh cô độc giữa một Chợ Lớn đang nảy mầm cuộc sống đô hộI phồn hoa. Các rạp hát, hộp đêm mọc lên như nấm. Các cuộc chạm trán xảy ra như cơm bữa giữa các băng nhóm bảo lê vớI nhau. Một hôm, đang lầm lũi trên đường, Tằng Sấy nghe ai đó gọI mình: “A Sấy à, đứng lạI đi!!!”
Tằng Sấy quay lạI bồI hồI nhận ra ngườI quen biết cũ. Có lẽ ông ta cũng là nguờI duy nhất nơi đất khách biết Tằng Sấy là ngườI được Đàm sư phụ thương yêu truyền cho tuyệt chiêu “Kiếm chỉ” (một thủ pháp đánh bằng ngón trỏ). Tằng Sấy trở thành ngườI trấn yểm các quán xá thờI ấy. Tên Xọa Tử (Tây Điên) được giớI đầu gấu khiếp nhược đặt cho anh, dần dần cũng được các kẻ yếu thế thương gọi.
Cho đến khoảng 1975 – 1979, những tay ma cô trấn lột ở chùa Bà Tuệ Thành (hộI quán ngườI Quảng Đông) vẫn nhận ra Tằng Sấy và rút lui trước khi nếm đòn. Tên ông trở thành “nhà ngoạI giao” luôn có mặt trong các cuộc giàn xếp mà phần lớn là hòa bình. Cho đến bây giờ, Sấy Bạc (Bác Tây) như mọI ngườI trìu mến đặt cho ông vẫn mang một tác dụng trong các cuộc thương thuyết. Nhưng vớI Sấy Bạc, đạo đức, nhân nghĩa vẫn là vũ khí vô song. Đó cũng là lờI giáo huấn của ông đốI vớI học trò khi môn phái thành lập đoàn lân. Và ông gọI Thắng Nghĩa Đường để dạy đệ tử: việc nghĩa không bao giờ tụt hậu. Nhân nghĩa sẽ chiến thắng!!!
Thế nên Lân Thắng Nghĩa Đường đã đến vớI các cuộc hoạn nạn lớn, ví dụ: hỏa hoạn Chợ Quán, bão lụt thiên tai miền Trung để chia xẻ nỗI đau của cộng đồng bằng các cuộc múa lân gây quỹ. Họ còn là võ phái đi đầu trong phong trào đóng góp xây dựng nhà tình nghĩa quận 5. Hằng năm, họ dạy học trò và lấy tiền nuôi ngườI thầy neo đơn. Sấy Bạc bây giờ đã 87 tuổi. Ngày 8/4 âm lịch, ngày Phật đản hàng năm cũng là ngày sinh nhật Sấy Bạc, các đệ tử của ông lấy đó làm ngày họp mặt truyền thống.
Ông đã được Bộ Văn hóa thông tin trao tặng tấm huân chương vì sự nghiệp văn hóa quần chúng. Ông cũng không có con và đang đậu ở nhà một ngườI quen trên đường Tân Phước.
Cố lão võ sư Đặng Văn Anh - chưởng môn Kim Kê Tây Sơn Nhạn
Cố lão võ sư Đặng Văn Anh - chưởng môn Kim Kê Tây Sơn Nhạn
Phong vũ như mai
Kê minh bất kỷ
Kích kiến quân tử
Vân hồ bất hỉ
Đó là 4 câu thờ đề trên bức tranh vẽ “gà đứng trên đỉnh núi gáy vang”, đặt trên bàn thờ tổ tạI võ đường Kim Kê (đường HảI Thượng Lãn Ông, quận 5). Phù hiệu của môn phái cũng lấy hình ảnh “con gà đứng trên đỉnh núi gáy” làm biểu tượng. Nhưng tạI sao lạI gọI là Kim Kê?
Kim Kê có nghĩa là “gà vàng”, lấy từ bài Mai Hoa quyền. Trong bài Mai Hoa quyền có thể “Kim Kê Độc Lập” rất hay nhưng cũng rất khó đánh, vì lúc nào cũng phảI đứng trên một chân trụ. Ông Đặng Văn Anh hết sức mến mộ cái thế “Kim Kê Độc Lập” tuyệt chiêu này nên khi thành lập võ đường năm 1945, ông mớI lấy chữ “Kim Kê” đặt tên cho vọ đường của mình, sau này trở thành môn phái Kim Kê, vang danh suốt thập niên 60.
Ông Đặng Văn Anh sinh ngày 30-5-1921 tạI xã Phước Vân, huyện Cần Đước, Chợ Lớn. Năm 1942, ông thọ giáo vớI thầy Bùi Văn Hóa, thường gọI là Chín Hóa, tạI Chợ Quán (nay là trường Kim Đồng), thuộc môn phái Tây Sơn Nhạn, chuyên dạy Thiếu Lâm NộI Quyền. Cậu học trò Đặng Văn Anh rất sáng dạ, mau hiểu biết, chẳng bao lâu đã tinh thông thập bát ban, được thầy Chín Hóa cưng chiều và sau này giao quyền chưởng môn phái (khi ông Lưu Văn Liểng qua đờI).
Dù thọ giáo vớI thầy Chín Hóa nhưng thực sự gìong dõi của ông Đặng Văn Anh là giòng võ, nên khi thành lập môn phái Kim Kê, gia phả có ghi danh cụ cố Đặng Văn Thơ, ông nộI Đặng Văn Chương và cha là Đặng Văn Tưởng. Môn phái Kim Kê lấy “yên tự xà hành” làm thân pháp, “thôi sơn” làm thủ pháp, “Bình sa lạc nhạn” là cước pháp, “Mai hoa quyền”, “Kim kê quyền” làm quyền pháp, và nộI lực là “thuật cường thân”. Về binh khí là thập bát ban, chuyên về đao pháp. Trong thập niên (1965 – 1974), võ đường Kim Kê sản sinh ra khá nhiều võ sĩ tài danh, làm “mưa gió” khắp các võ đài Chợ Lớn, Gia Định và các tỉnh thành phía Nam; tất cả các võ sĩ này đều lấy họ “Kê” như: Kê Hoàng Long, Kê Hùng Sơn, Kê Minh Sơn, Kê Thắng Sơn, Kê Hoa Sơn (một năm “cáp” đến 20 độ, không thua độ nào). Thế hệ đào tạo sau 1975 cũng có nhiều môn sinh nổI tiếng, giành nhiều huy chuơng trong các giảI vô địch võ cổ truyền tp.HCM và toàn quốc như: Lê Đình Long, Nguyễn An Tâm Khánh, Trương Huỳnh Long, Lê Thị Ngọc Chi, Hoàng Hạnh Phúc, Phan Văn Trí Nhân, Dương Thị Thanh Trúc… ThờI trước, môn phái Kim Kê rất nổI tiếng trên võ đài, vớI các đòn sở trường “sát thủ giản”; những cú rờ-ve độc hiểm, không thiếu phần kỹ xảo; đòn “Thôi sơn” có pha quyền Anh); đòn “chân tiền cước” tương tự như Bàng long cước, thường đá liên hoàn (2 cú bồI là vô góc đài luôn, Kê Hoàng Hổ thường sử dụng đòn này để hạ địch thủ); riêng ngón “Bình sa lạc nhạn” cũng hay nhưng ít có võ sĩ áp dụng. Nếu có nghe ai nói: “có ông thầy đá trói rất hay” thì đó là ngón “Bình sa lạc nhạn”, khi đá trúng ngay “hồng hảI huyệt” hoặc “bạch hảI huyệt” (giữa bắp đùi, gần đầu gốI) địch thủ quỵ liền (nghĩa là tự trói mình vậy). Còn nói về đòn thế biểu diễn thì võ sư Đặng Văn Anh cho rằng: trình diễn hay đẹp là do ngườI thực hiện, chứ không có riêng đòn thế này hay, đòn thế kia đẹp, chẳng hạn như “yên tự xà hành” đi tiếp vớI “siêu phong hoán vũ” thì rất hay và đẹp.
Hiện nay, môn phái Kim Kê đang phát triển mạnh tạI tp.HCM và một số ít tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, đều do các học trò giỏI của võ sư Đặng Văn Anh quản lý đứng lớp, như:võ sư Đặng Kim Anh ở CLB Tinh Võ (quận 5), võ sư Nguyễn Đình Long ở CLB Tao Đàn (quận 1), HLV Lê Thị Ngọc Chi ở trường PTTH Hùng Vương (quận 5)…, võ sư Lâm Trọng Văn ở Mỏ Cày (Bến Tre), võ sư Vũ Quốc Hùng ở Cà Mau (Minh HảI)…
Sau khi lão võ sư Đặng Văn Anh qua đờI thì quyền chấp chưởng môn phái do võ sư Đặng Kim Anh (con của lão võ sư Đặng Văn Anh) đảm nhiệm. Võ sư Đặng Kim Anh hiện là HLV trưởng cho độI tuyển võ cổ truyền tp.HCM, và các học trò do thầy đào tạo luôn đoạt số huy chương vàng cao nhất qua các kỳ thi đấu toàn quốc, vượt qua cả Bình Định. Các bạn yêu thích Thiếu Lâm thực chiến quyền pháp có thể đến thọ giáo vớI thầy ở CLB Tinh Võ (quận 5)
Những danh nhân võ thuật từ xưa đến nay!
Căn nhà 8 Võ Tánh - Huế được xem là "Tổ đình", là "Cái nôi", là "Quê hương" của Karate Việt nam. Từ lâu, nhiều du khách, nhất là du khách người Nhật rất muốn biết địa chỉ này. Nhưng tiếc rằng, nó lại đang là nhà ở của một số hộ dân cư thay vì là nơi phục vụ cho nhu cầu thăm viếng của khách du lịch.
Đó là căn nhà hình ống, bề ngang 6,5 m, bề dài 30 m, chia thành 5 ngăn: phần trước, khoảng 49 m2, gồm tầng dưới làm văn phòng giao dịch, gác gỗ dùng để ở, ngăn 3 và 4, mỗi ngăn khoảng 40 m2, là phòng tập Karate và Judo. Căn nhà ở số 8 Võ Tánh - Huế, nay là 8 Nguyễn Chí Thanh, thuộc khu phố cổ Gia hội. Nguyên chủ nhân căn nhà nầy là một võ sư Karate: Ông Suzuki Choji. Võ sư Suzuki đến Huế định cư từ cuối năm 1954. Ông là người Nhật đầu tiên đem môn Karate truyền vào Việt nam. Ông được xem là "Ông Tổ" của làng Karate Việt nam.
Từ cái nôi 8 Võ Tánh - Huế, các môn đồ của võ sư Suzuki đem Karate phát triển trên nhiều tỉnh thành phía Nam. Sau 1975, môn võ được phát triển ra nhiều tỉnh thành phía Bắc. Hiện nay, môn Karate do ông truyền thụ có hằng vạn thanh thiếu niên tham gia tập luyện. Nhiều môn đồ của ông trở thành huấn luyện viên giỏi, vận động viên xuất sắc của làng Karate và của đội tuyển Karate quốc gia như: Võ sư Đoàn Đình Long, Lê Công, Lê Văn Thạnh, Anh Tuấn, Hồng Hà, Văn Thông, Kiều Trang...
Sau khi võ sư cùng gia đình hồi hương về Nhật năm 1977, căn nhà là cơ sơ của hợp tác xã mây tre chổi đót. Gần đây, căn nhà trở thành nơi trú ngụ của 3 hộ gia đình không biết từ đâu nhảy vào. Trừ căn gác gỗ không ai ở, các ngăn còn lại đã biến dạng nhiều so với ngày trước khi còn là một võ đường lừng lẫy.
Ngoài những người quan tâm trong nước, nhiều người Nhật coi căn nhà số 8 Võ Tánh có ý nghĩa lịch sử đặc biệt. Mới rồi, đã có kiến nghị của ủy ban nhân dân phường Phú Cát, thành phố Huế, đưa căn nhà này vào danh mục địa chỉ tham quan của du khách dịp Festival 2002 nhưng không thành. Rất có thể, theo thời gian, căn nhà này sẽ mất đi dấu ấn của cái nôi võ thuật mà còn lại chỉ là bóng dáng của cuộc sống đời thường.
Những danh nhân võ thuật từ xưa đến nay!
VSCM Lê Sáng
Nguyên quán ở tỉnh Thanh Hóa, Vs. Lê Sáng chào đời vào mùa thu năm 1920 tại căn nhà bên bờ hồ Trúc Bạch (Hà Nội), và là trưởng nam của cụ ông Lê Văn Hiển tự Đức Quang (1887-1959) và cụ bà Nguyễn Thị Mùi (1987-1993). Vào năm 1939, sau một cơn bạo bệnh nên đôi chân đi cứng khó khăn, nghe theo lời khuyên của mẹ, Vs. Lê Sáng đã tìm thầy học võ vớ mục đích rèn luyện cho đôi chân cứng cáp và thân thể khỏe mạnh. Duyên may đưa đẩy ông đến với lớp Vovinam tại trường Sư Phạm (Ecole Normale), Hà Nội do Cố Võ Sư Sáng Tổ giảng dạy. Có năng khiếu, thông minh và chuyên cần luyện tập, vài năm sau, ông được Võ Sư Sáng Tổ cho tham gia công việc huấn luyện tại Hà Nội. Từ đó, ông luôn gắng bó cùng Sáng Tổ như anh em ruột thịt, cùng đồng lao cộng khổ và từng theo chân Sáng Tổ đi dạy Vovinam nhiều nơi: Thạch Thất (Sơn Tây), Phú Thọ, Chuế Lưu, Đan Hà, Đan Phú (Yên Bái), Me Đồi (Vĩnh Yên). Năm 1954, ông cùng Sáng Tổ di cư vào Sài Gòn. Tại đây ông được phân công mở các lớp Vovinam ở đường Thủ Khoa Huân và ở quận Thủ Đức. Giữa năm 1957, Sáng Tổ nằm bệnh phải nghỉ dạy, Ông ủy quyền cho Võ Sư Lê Sáng tạm thời thay thế việc phụ tráchh các lớp võ. Vào thời điểm này, căn cứ vào các ý niệm tiên khởi về Cách Mạng Tâm Thân do Sáng Tổ giảng dạy, Võ Sư Lê Sáng đã hình thành hệ thống hóa kỹ thuật võ học, lý thuyết võ đạo và đường hướng, tôn chỉ và mục đích của môn phái. Đồng thời Võ Sư Lê Sáng quy tụ lớp môn đệ đã theo tập Sáng Tổ từ năm 1955, bồi dưỡng thành lớp võ sư cốt cán chung tay phát triển môn phái. Năm 1958, Võ Sư Lê Sáng được bầu vào chức vụ Tổng Thư Ký Tổng Cuộc Quyền Thuật Việt Nam trong ba nhiệm kỳ (1958-1968), cùng chức vụ Tổng Thủ Quỹ Ủy Hội Olympic Việt Nam (1960-1972). Trong thời kỳ này, Võ Sư Lê Sáng đã nghiên cứu, tìm hiểu sâu về các môn võ cổ truyền, và ông đã rút ra được tinh túy và tìm cách bổ túc, cùng chỉnh lại phần phân thế thất truyền của những bài võ xưa mà lập ra một hệ thống mới "một phát triển thành ba", nghĩa là: từ đòn căn bản (1) ghép lại thành bài đơn luyện (2) và bài song luyện (3). Với hệ thống này, người tập sẽ dễ luyện, dễ nhớ, ôn đi, ôn lại nhuần nhuyễn. Các kỹ thuật và các bài bản mới:
30 thế chiến lược (với nguyên tắc lấy công làm thủ)
28 thế vật căn bản với 3 bài song đấu vật
Song luyện dao găm
Các bài quyền và khí giới: Nhập Môn Quyền, Thập Tự Quyền, Tứ Trụ Quyền, Ngũ Môn Quyền, Viêm Phương Quyền, Thập Thế Bát Thức Quyền, 4 bài Nhu Khí Công Quyền, 4 bài Liên Hoàn Đối Luyện, Long Hổ Quyền, Trấn Môn Quyền, Việt Võ Đạo Quyền, Xà Quyền, Hạc Quyền, Tinh Hoa Lưỡng Nghi Kiếm Pháp, Tứ Tượng Côn Pháp, Nhật Nguyệt Đại Đao Pháp, Việt Điểu Kiếm Pháp, Tiên Long Song Gươm Pháp, Mã Tấu Pháp, Mộc Bản Pháp, Bài Súng Gắn Lưỡi Lê, Song Đấu Búa Rìu, Song Đấu Mã Tấu.
Phân thế hai bài võ cổ truyền Lão Mai Quyền và Ngọc Trản Quyền
Do tình hình thời sự, những năm đầu thập niên 1960, Võ Sư Chưởng Môn Lê Sáng phải lên tận Ban Mê Thuộc làm ăn và mãi đến cuối năm 1963, khi các võ phái ở Sài Gòn được phép hoạt động trở lại, ông mới quay về, bắt tay vào việc củng cố, xây dựng và phát triển môn phái. Là người môn đệ trưởng tràng, sát cánh cùng Sáng Tổ gần 20 năm, Võ Sư Chưởng Môn Lê Sáng đã tiếp thu những tư tưởng võ đạo và võ thuật của Sáng Tổ một cách sâu sắc nhất. Trên cơ sở đó, với cương vị Chưởng Môn, ông đã lãnh đạo và đưa môn phái phát triển thật mạnh mẽ trong giai đoạn 1964-1975. Dù cuộc sống còn nhiều thiếu thốn, song song với việc chỉ đạo phong trào, mỗi ngày ông vẫn trực tiếp huấn luyện hàng 10 giờ cho nhiều đối tượng khác nhau, vậy mà đêm đêm còn chong đèn viết sách báo hệ thống hóa lại những tư tưởng võ học của Sáng Tổ và qua kinh nghiệm thực tiễn của mình, ông đã bổ xung vào chương trình huấn luyện nhiều kỹ thuật đòn thế phong phú. Các tác phẩm của Võ Sư Chưởng Môn Lê Sáng gồm có:
Ý nghĩa màu đai
10 điều tâm niệm
Tìm hiểu võ thuật - võ đạo
12 phương châm tu dưỡng hành xử
Tác phong của Việt Võ Đạo Sinh
Ý thức hệ võ đạo về nếp sống và tình cảm Việt Võ Đạo
Chủ thuyết cách mạng tâm thân
Vũ trụ quan - Nhân sinh quan
...
Là người lãnh đạo của môn phái Vovinam - Việt Võ Đạo, Võ Sư Chưởng Môn Lê Sáng luôn hỗ trợ và hướng dẫn các hoạt động chuyên môn của môn phái ở các nơi, chấm thi cho các môn sinh cao đẳng đồng thời nghiên cứu để ngày một hoàn chỉnh hơn hệ thống lý luận và kỹ thuật của bản phái. Chẳng những giỏi võ, có năng lực lãnh đạo, Võ Sư Chưởng Môn Lê Sáng còn là một con người tài hoa. Bằng những nét chữ bay bướm, đẹp mắt và rõ ràng, ông thường sáng tác nhiều bài thơ mang cảm xúc sâu lắng và tinh thần thượng võ. Trong cuộc sống thường ngày, ông rất giản dị, thường hay giúp đỡ bạn bè và đối xử chân tình với những người xung quanh. Đối với môn đệ, ông chí tình dạy bảo, thương yêu và dung thứ. Những lúc cha mẹ ốm đau, ông luôn cận kề và chăm lo chu đáo. Sống đơn thân, không nặng gánh gia đình, thấm nhuần triết lý phương Đông, đồng thời là người môn đệ xuất sắc nhất của Cố Võ Sư Sáng Tổ Nguyễn Lộc, bằng tài năng và đạo đức của mình, Võ Sư Chưởng Môn Lê Sáng đã cống hiến gần trọn cuộc đời mình cho công cuộc xây dựng và phát triển môn phái Vovinam-Việt Võ Đạo.