Prion chỉ là một protein đơn giản, bình thường trong tế bào bình thường của chúng ta cũng có prion (gọi là cellular prion protein). Do một biến đổi nào đó chúng ta chưa hiểu rõ, prion bình thường này đổi hình dạng, tựa như chúng ta lấy tờ giấy xếp thành con chim, bây giờ cũng vẫn tờ giấy đó, bẻ chỗ này, lộn chỗ khác, xếp lại thành hình chiếc máy bay. Sau khi đổi dạng khác (là một isoform mới), prion nay có thể gây bịnh và có thể "rủ rê" các prion khác ‘’phản phé’’ theo mình và gây bệnh theo. Tức là prion gây bịnh có khả năng ‘’sinh sản’’ bằng cách biến dạng các prion ‘’tốt’’ bình thường, sẳn có, thành prion ‘’ác’’ có thể gây bệnh như mình.

Thuật ngữ “prion” do Stanley Prusiner, cán bộ nghiên cứu của trường Đại học California, đưa ra vào năm 1982, để chỉ “các phần tử lây nhiễm có protein- Proteinaceous Infectious Particles”. Thuật ngữ này được chọn để nhấn mạnh rằng tác nhân gây lây nhiễm mà ông nghiên cứu là protein, chứ không phải bởi các phân tử nucleic của virus, điều mà từ trước tới nay vẫn quan niệm. Trong vòng ít nhất 25 năm, các nhà khoa học đã từng nghi ngờ rằng còn có những tác nhân kỳ lạ, được gọi là những “virus chậm” đã là thủ phạm gây nên các bệnh về não ở động vật và người, như bệnh bò điên, bệnh Creutzfeld- Jacop (CJD), nhưng họ không nhận dạng được. Prusiner là người đầu tiên đã đưa ra giả định rằng tác nhân chung gây ra tất cả các bệnh đó chính là prion.
ý tưởng này đã gây ra một làn sóng nghi ngờ rất lớn trong giới nghiên cứu y- sinh học. Họ đòi hỏi phải giải thích cách thức mà một phân tử không có ADN hoặc ARN lại có thể gây ra bệnh. Nhưng Prusiner vẫn tiếp tục chứng minh bằng thực nghiệm lý thuyết của mình và phát minh ra rằng prion thực sự là những protein bị lệch tâm, gây nguy hiểm, có thể làm cho các protein khác thay đổi hình dạng, nhờ đó truyền được thông tin cấu trúc từ phân tử này sang phân tử khác.

Và theo như mình biết thì prion làm gì tổng hợp đợc protein. Protein prion được tạo ra bằng cách sử dụng các vi khuẩn và được cho một thioester bổ sung (một nhóm chứa lưu huỳnh). Trung tâm của khái niệm mới này là sự liên kết của protein và tác nhân gắn kết bằng các ligan hoá học tự nhiên, trong đó nhóm cysteine phản ứng với thioester. Điều này cho phép prion protein bám vững chắc vào màng bằng cách của tác nhân gắn kết nhân tạo.


Phiên mã ngược
Phiên mã ngược (reverse transcription) là kiểu truyền thông tin từ ARN sang ADN, chỉ xảy ra trong các tế bào động vật và người bị lây nễm bởi một số virus mang một sợi ARN có khả năng gây khối u hoặc hai sợi ARN như trường hợp HIV chẳng hạn.

Trên mỗi sợi ARN lõi của các virus này có mang một enzyme phiên mã ngược (reverse transcriptase). Khi xâm nhập vào tế bào chủ, enzyme này sử dụng ARN của virus làm khuôn để tổng hợp sợi ADN bổ sung (cADN - complementary ADN). Sau đó, sợi cADN này có thể làm khuôn để tổng hợp trở lại bộ gene của virus (cADN→ARN), hoặc tổng hợp ra sợi ADN thứ hai bổ sung với nó (cADN→ADN) như trong trường hợp virus gây khối u mà kết quả là tạo ra một cADN sợi kép. Phân tử ADN sợi kép được tổng hợp trước tiên trong quá trình lây nhiễm có thể xen vào ADN của vật chủ và ở trạng thái tiền virus (provirus). Vì vậy, provirus được truyền lại cho các tế bào con thông qua sự tái bản của ADN vật chủ, nghĩa là các tế bào con cháu của vật chủ cũng bị chuyển sang tình trạng có mầm bệnh ung thư. Các tế bào ung thư này mất khả năng kiểm soát sự sinh trưởng - phân chia điển hình của tế bào bình thường; chúng tăng sinh rất nhanh và tạo ra khối u (tumor). Đó chính là cơ chế gây ung thư bởi virus.

Ngày nay, người ta có thể tinh chiết các enzyme phiên mã ngược để phục vụ cho kỹ thuật tạo dòng cADN tái tổ hợp.