Tiếp tục đê::devil:
Final Fantasy III
Title: Final Fantasy III
Platforms: Famicom/NES
Japan - 27/04/1990
The History
Final Fantasy III là game cuối cùng cho máy Famicom. Cuối cùng, hệ thống chơi game 8-bit nổi tiếng này đã không đáp ứng nổi nhu cầu của Square. Không may mắn thay là FF III không được phát hành tại Mỹ. Đây là phiên bản duy nhất trong loạt game Final Fantasy mà dân Mỹ phải ngậm ngùi. Kế hoạch ra mắt phiên bản Final Fantasy III trên hệ máy Wonderswan Color của Square đã bị ngừng lại.
Đây là một phiên bản rất hay (coolll game) và đẹp trên hệ máy Famicom.
The Story
The Gurgan quietly spoke...
"This earthquake is but an
omen. The tremors that pulled
the Crystals into the earth
and brought forth monsters
are nothing compared to the
Darkness which is to come..."
But, hope is not yet lost.
Four souls will take up the
quest of the Light.
And so it begins...
Four orphans have been
raised by the priest Topapa
in the remote village of Ur.
A Crystal has sunk into the
earth due to the earthquake,
and the four boys have come
in an adventurous mood.
They had only intended to
test their courage...
Cái ác đại diện cho sự tàn phá và chết chóc, có khi nào cái thiện có thể quét sạch cái ác ra khỏi thế giới?
Thế giới rung lên bởi một trận động đất kỳ lạ. Đó như một điềm báo hiệu. Cơn chấn rung đã đẩy những viên tinh thể chìm xuống lòng đất và mang theo những con quái vật. Và bóng đêm sẽ kéo đến với sức mạnh không gì sánh nổi. Nhưng hy vọng vẫn không chấm dứt…
Bốn đứa trẻ (lại bốn ) mồ côi ở ngôi làng nhỏ Ur tò mò khám phá bí mật của cơn động đất thì vô tình bị lọt xuông một cái hố sâu. Vô tình bốn đứa trẻ khám phá ra một viên Crystal – Wind Crystal. Bốn đứa bé đã được viên pha lê huyền thoại chọn làm bốn chiên binh ánh sáng (ngán wá) và được giao cho nhiệm vụ hết sức nặng nề: lập lại trật tự thế giới, cân bằng thế giới bóng tối và ánh sáng. Bốn đứa trẻ đồng thời được tiếp thu nguồn năng lượng từ chính viên pha lê đó. Và cuộc phiêu lưu thực sự bắt đầu…
Final Fantasy III là câu chuyện dài, lần đầu tiên một phiên bản có nhiều vùng đất nhiều bản đồ đến vậy. Quá trình khám phá, lập lại trật tự thế giới lúc đầu có vẻ không rõ ràng cho đến khi bạn khám phá ra một phù thuỷ với tài phép cao siêu nhưng với ý nghĩ đen tối, hắn muốn cho quỷ vương thức dậy. Một quỷ vương của thế giới bóng tối muốn dùng sức mạnh để làm biến mất toàn bộ mọi thứ của thế giới ánh sáng. Cả bốn chiến binh ánh sáng được sự giúp đỡ của mọi người đã đi đến thế giới bóng tôi, cùng với bốn chiến binh bóng tối đã có một trận chiến kinh hoàng với Quỷ vương Dark Cloud.
In the Beginning, there was the Void
Then Light and Dark were made
Everything was born then
Stars, Moon, Water, Fire
and Life...-
But Life gave birth
to something more
Dividing the Light and Dark
into an Energy call Hope...
When Light and Dark overlap
and all would return to Void,
4 to divide them shall appear.
Never forget that their power
is the Hope of the people...
Time washes away all
Dreams, Despair, Love
But do not be swept away
Look instead to that place
To the Light that shines
after all else is gone...
Hope..."
This is the ending. Một đoạn kết của Fantasy
The Heroes
Các nhân vật của Final Fantasy III hầu như không có sự phân biệt. Cả bốn đứa bé chức năng như nhau. Chúng không có sự phát triển tính cách dù cho có khá hơn Final Fantasy. Điều này kém xa Final Fantasy II. Tuy vậy hệ thống Jobs của Final Fantasy III khá vượt trội vượt xa Final Fantasy.
Bạn nhận được Jobs mới khi tiếp nhận năng lượng từ những viên Crystal – Wind, Fire, Water, Earth. Ngoài ra hai Jobs mạnh nhất có được khi bạn đánh nhau với một con trùm, đó là 2 Jobs: Ninja và Sage.
Hệ thống Jobs của Final Fantasy III
- Onion Kid: Đây là jobs đầu tiên của các nhân vật. Cực yếu. Không mạnh bất cứ mặt nào
- Fighter: có thể sử dụng kiếm và khiên.
- Monk: khá mạnh và chỉ số Hp cao.
- White Wizard: rất cần thiết, có nhiều phép cứu chữa khẩn cấp. Nhưng khả năng chịu các đòn tấn công vật lý yếu.
- Black Wizard: cũng giống với White Wizard nhưng sử dụng tất cả các phép thuật tấn công.
- Red Wizard: có khả năng sử dụng một số phép thuật cứu chữa và tấn công, là sự kết hợp của Black Wizard và White Wizard.
- Hunter: cung thủ, khá mạnh và hữu dụng vì có thể học được một số phép hồi sức.
- Knight: rất mạnh và cần thiết trong mỗi trận đấu. Chỉ có Knight mới có khả năng sử dụng thanh kiếm Excalibur huyền thoại.
- Thief: không mạnh nhưng có nhiều khả năng đặc biệt như mở cửa bị khoá.
- Scholar: học giả, tấn công bằng các phép ở trong sách.
- Geomancer: Tấn công yếu những hưu dụng với đòn thuộc tính đất.
- Dragoon: tấn công kẻ thù từ trên cao, nhưng khi sử dụng chiêu Jump thì các nhân vật khác dễ gặp nguy hiểm.
- Viking: chỉ hữu dụng khi bắt đầu cuộc phiêu lưu. Về sau thì……
- Karateka: Mạnh hơn Monk, trong một lượt đánh có thể tấn công 2 lần.
- Mystic Knight: Khả năng chịu đựng cao, các đối thủ dễ dàng hạ gục dưới thanh kiếm của Paladin.
- Conjurer: khá giống với Summoner nhưng triệu tập những sinh vật huyền thoại.
- Bard: sử dụng nhạc cụ để hỗ trợ các nhân vật khác.
- Summoner: Yếu về tấn công lẫn phòng thủ, nhưng có quyền năng phép thuật mạnh. Nhiệm vụ của Summoner ? Tất nhiên là triệu tập các vị thần.
- Shaman: có những phép White Magic rất mạnh nhưng pháp thuật cao hơn White Wizard.
- Warlock: có những phép Black Magic rất mạnh nhưng pháp thuật cao hơn Black Wizard.
- Sage: Có thể sử dụng tất cả các loại phép thuật. Khuyết điểm là rất yếu về phòng thủ.
- Ninja: Mạnh mẽ và nhanh nhẹ nhưng trên hết là khả năng mang tất cả các loại vũ khí và áo giáp.
The Villains
Phù thuỷ Zande, một kẻ độc ác, nhưng lại là người bị khống chế bởi một thế lực khác của thế giới bóng tôi. Quỷ vương Dark Cloud…
Game & Battle system
Battle System có nhiều điểm mới và tiến bộ hơn hai phiên bản trước. Khung cảnh trong trận đánh có phần đa dạng phong phú hơn. Xuất hiện những trạng thái mới của battle như back attack… Đặc biệt khi quái vật mà nhân vật được chỉ định tấn công bị chết thì nhân vật đó sẽ tấn công quái vật khác…
Game chơi dễ hơn, có phần vì hệ thống Jobs đa dạng. Với những trận đánh bằng phép thuật có thể cho 4 Black Wizard hay đánh cơ bắp có thể cho 3 hay 4 Monk… Để đổi job cần unequip nhân vật rồi mới cần capacity (một khái niệm mới mà có thể thu được sau mỗi trận đánh) để đổi job. Điều này hết sức tiện lợi so với hai phiên bản trước. Mặt khác việc tìm đường dễ dàng hơn. Ít ra Final Fantasy III có 4 chiếc phi thuyền với đặc tính cực kỳ đa dạng như tàu ngầm hay thuyền biển.
Chocobo thực sự có ích trong Final Fantasy III. Nếu như xuất hiện từ Final Fantasy II chỉ với nhiệm vụ để đi thì Chocobo là nơi lưu trữ đồ tuyệt vời. Trong Final Fantasy thì bảng Item rất hạn chế với số lượng Item siêu ít. Chỉ có 5 Item trên 9 Keyitem. Sang Final Fantasy II thì Item nhiều hơn nhưng chỉ cho phép chứa tất cả hơn 35 Item (kể cả cùng loại) trong khi Keyitem chiếm hơn 1/3. Rất hạn chế. Sang đến Final Fantasy III, bảng Item vẫn hạn chế nhưng có thể gửi cho một cái thùng ko đáy. Fat Chocobo.
Trong Final Fantasy III, lần đầu tiên xuất hiện phòng lập trình của Game. Ở một ngôi làng tên là Gysahl, khi nói chuyện với một người dấu mình ở phía trong một căn phòng để vào đuợc phòng lập trình bí mật của game. Tại đây bạn sẽ được trò chuyện với những người lập trình và thiết kế game. (Thú vị đoá)
Trong game còn rất nhiều điều hay mạn phép không nói ra (mệt roài)
Bổ sung: Định nói cái này lại quên, Final Fantasy I, II, III có cơ chế Random Battle mà không phải là Random. Bạn sẽ gặp quân địch sau một số lần bước chân phụ thuộc vào các status của nhân vật. Nếu bạn chơi giả lập và biết chức năng quick save + load. Bạn sẽ tận dụng được việc tránh gặp quân địch trong khi kiếm Item tại nơi mà quái vật rất khó chịu. Nhất là trong Final Fantasy II-đánh quái vật mạnh cũng không lợi lộc gì trong khi đánh rất khó. Đây là mẹo tôi phát hiện ra khi ở cuối Final Fantasy II. Trong khu vực toàn địch, cách bạn tránh gặp mặt quân địch tốt nhất là để 1,2 đứa máu thật thấp. Bước vô và nhớ quick save. Khi bị gặp quân địch khó chịu mà ko muốn đánh nó. Load lại và bạn phải nhớ nơi gặp địch cách mình bao bước chân. Dừng lại trước đó một bước. Và dùng Cure lên mình. HP nhân vật thay đổi lập tức khi đi tiếp sẽ không gặp quân địch nào hết. Nghe có vẻ khó hiểu nhưng nó giúp bạn đỡ thời giờ rất nhiều khi tìm Item ở nơi có quái vật mạnh
The Graphics & Music
Wa, đẹp hơn Final Fantasy I & II rất nhiều. Nét thanh và chau chuốt, màu sắc hài hòa, đồi núi không có dang vẻ thô kệch như 2 phiên bản trước. Hệ thống battle cũng cải tiến hơn về đồ họa. Tuy nhiên 2 nhân vật mà cùng một job thì 100% bạn không thể phân biệt được ai với ai.
Âm thanh cũng khai thác tối đa những ưu điểm của Famicom, trở thành đỉnh cao trên hệ máy NES.
Final Recommendation
Một game rất đáng chơi, cho những ai là Final Fantasy Fan, bạn sẽ thấy nó mang nhiều nét tương đồng cho Final Fantasy sau này. Đó thực sự là đỉnh cao của một Final Fantasy trên hệ NES
Final Fantasy IV
Title: Final Fantasy IV
Platforms: Super Famicom/Nintendo
Japan - 22/03/1991
Title: Final Fantasy IV Easytype
Platforms: Super Famicom/Nintendo
Japan - 29/10/1991
Title: Final Fantasy II
Platforms: Super Famicom/Nintendo
United States - 05/11/1991
Title: Final Fantasy IV
Platforms: Wonderswan Color
Japan - 28/03/2002
Title: Final Fantasy Collection (Final Fantasy IV + Final Fantasy V + Final Fantasy VI)
Platforms: PlayStation 1
Japan - 11/03/1999
Title: Final Fantasy Chronicles (Final Fantasy IV + Chrono Trigger)
Platforms: PlayStation 1
United States - 29/06/2001
Title: Final Fantasy Anthology( Final Fantasy IV + Final Fantasy V)
Platforms: PlayStation 1
Europe - 17/05/2002.
The History
FF IV rất thành công tại Mỹ, cũng như tại Nhật, số lượng bán ra hàng triệu bản. Sức mạnh mới của hệ thống Super Nintendo đã khiến cho người chơi say đắm bởi chất lượng đồ hoạ và âm thanh - một điểm mạnh sau này của loạt game FF. Đây là phiên bản Final Fantasy thứ hai được phát hành ở Mỹ. Square đã cho ra mắt nó với cái tên Final Fantasy II. Điều này rất dễ gây nhầm lẫn với bản Final Fantasy II (Japan).
Final Fantasy IV còn được chia làm hai loại: Final Fantasy IV Hardtype và Final Fantasy IV Easytype. Phiên bản Hardtype chỉ Final Fantasy IV lúc mới phát hành. Sau đó Square cho phát hành một phiên bản khác dễ hơn dành cho độ tuổi khác. Final Fantasy IV Easytype là nền tảng của Final Fantasy II US. Lý do tại sao chúng được chia ra như vậy sẽ nói rõ trong Game và Battle Systems.
Trong phiên bản làm lại trên cả Final Fantasy Anthology và Final Fantasy Chronicles cũng được chèn thêm một số đoạn FMV để tăng thềm phần hấp dẫn.
The Story
"One to be born from a dragon
hoisting the light and the dark
arises high up in the sky
to the still land.
Veiling the moon with the light of eternity,
it brings another promise
to mother earth
with a bounty and mercy."
- Mysidian Legend -
Trong một thế giới mà mỗi viên Crystal (lại Crystal !) đều mang trong mình một sức mạnh thần bí và huyền diệu, chúng có những quyền năng vô hạn mà không người nào có thể lường hết. Chính vì thế, chúng được các quốc gia gìn giữ và bảo vệ rất kỹ lưỡng. Nhưng vị vua của xứ Baron lại mong muốn có những báu vật đó để thực hiện những mưu đồ riêng. Hắn đã giao nhiệm vụ thu lấy những viên Crystal này cho một đày tớ trung thành và đáng tin cậy Cecil - một Dark Knight chỉ huy hạm đội tàu bay Red Wings. Sau khi giết những người dân lương thiện ở Mysidia để đem Crystal of Water về cho quốc vương. Trong suốt quá trình trở về, Cecil luôn day dứt bởi hành động của mình, Cecil tự vấn lương tâm đặt mình giữa nhiệm vụ và người dân vô tội. Cecil bắt đầu thắc mắc với quốc vương về những hành động tội lỗi đó. Với bản chất lương thiện, Cecil đã quyết định rũ bỏ quá khứ là một Dark Knight sau khi bị chính quốc vương của mình lừa tiếp lần nữa khi sát hại toàn bộ dân làng ở thị trấn Mist nhỏ bé. Hành động theo trái tim mách bảo, Cecil lên đường bảo vệ những viên Crystal khỏi rơi vào tay quốc vương Baron. Song đó cũng là lúc Cecil biết được người điều khiển giật dây quốc vương Baron là một kẻ thâm độc khác Golbez. Hắn còn điều khiển cả người bạn thân thiết Kain của Cecil nhằm khống chế Cecil. Biết mình chưa đủ sức đánh lại, Cecil đã lên núi tập luyện, giằng co giữa cái ác và thiện trong cơ thể mình, cuối cùng trở thành một Paladin cầm theo một thanh gươm truyền thuyết. Sau bao nỗ lực của Cecil nhưng đều thất bại, cuối cùng Golbez đã nắm được bốn viên Crystal của thế giới trên mặt đất và bốn viên khác ở thế giới dưới mặt đất. Hắn mong muốn mở ra một con đường nối liền hành tinh xanh với mặt trăng. Nhưng cuối cùng, tất cả đều phát hiện ra một sự thật, một thế lực điều khiển tất cả tội ác từ đầu trò chơi tới giờ, một đối thủ nguy hiểm đến từ Mặt Trăng, Zemus, kẻ điều khiển Golbez hòng sử dụng sức mạnh của Crystal để phá vỡ ấn phong của hắn trên bề mặt Mặt Trăng. Và toàn bộ sức lực cuối cùng của cả nhóm Cecil với sự giúp đỡ của những người bạn thân thiết dưới Trái Đất, họ đã đánh gục được kẻ thù nguy hiểm nhất vũ trụ, Zemus…
The Heroes
Cecil Harvey
Age : 20.
Birthplace: Unknown.
Height : 178 cm.
Weight : 76 kg.
Job : Dark Knight/Paladin.
Có thể Cecil là một người anh hùng có tính cách nhất, là người hiểu rằng mình bị chi phối bởi quyền lực cao hơn, nhưng thường đặt ra những câu hỏi và xem đó là tốt hay xấu. Trong giai đoạn đầu của game không đề cập tới thời thơ ấu của Cecil, chỉ biết rằng Cecil được nuôi dưỡng ở Baron và từ đó Cecil được học những kiếm pháp của bóng đêm. Cecil nhanh chóng trở thành một Dark Knight vô song, có khả năng điều khiển hạm đội mạnh nhất thế giới, những con tàu Red Wings. Nắm giữ một đội quân mạnh nhất, thiện chiến nhất trên thế giới, Cecil rất tự hào về sức mạnh của mình và đồng đội. Trái với bề ngoài lạnh lùng và thản nhiên, Cecil là một người có cảm xúc. Khi phát hiện ra hành động mờ ám của vua Baron chống lại nhân dân và lừa dối mình, Cecil không chấp nhận trở thành một công cụ chiến tranh, cuối cùng Cecil từ bỏ địa vị chức tước cùng người con gái mình yêu dấu, không hành động mù quáng nữa mà theo lương tâm mách bảo. Về sau, khi thân phận thật sự của Cecil được khám phá: một trong hai đứa con của người đàn ông trên Mặt Trăng và người phụ nữ Trái Đất, đó cũng là lúc Cecil gánh trọng trách tiêu diệt Zemus khi cùng nhau sát cánh với người anh trai Golbez - người từng có ý muốn tiêu diệt Cecil. Phút giây mà cả Cecil lẫn Golbez đều ngẹn ngùng khi ôm nhau và gọi nhau “Anh”, “Em” như người ruột thịt thật sự miêu tả rõ nội tâm đầy cảm xúc của Cecil.
Kain Highwind
Age : 21.
Birthplace : Baron.
Height : 183 cm.
Weight : 79 kg.
Job : Dragoon.
Là đội trưởng của đội Kỵ binh của Baron, Kain xuất hiện từ ngay đầu trò chơi. Kain là bạn thời thơ ấu và được vua Baron nuôi lớn cùng Cecil. Cecil trở thành Dark Knight thì Kain lại trở thành Dragoon. Kain luôn là người kề vai sát cánh với Cecil trong những trận đấu khó khăn và nguy hiểm. Kain rất yêu Rosa – cô bạn thân ở thành Baron và là người yêu của Cecil. Rất không may, Golbez đã lợi dụng điểm này để điều khiển Kain, biến Kain thành tay sai đắc lực cho hắn. Cuối cùng thì Kain lại trở thành đồng đội của Cecil khi thoát khỏi vòng kiểm soát của Golbez. Khi trận chiến đấu không khoan nhượng với Zemus kết thúc. Cecil trở thành quốc vương thành Baron bên cạnh Rosa với tư cách là hoàng hậu, Kain tự nguyện ẩn mình cho hạnh phúc của đôi bạn thân.
Rosa Farrel
Age : 19.
Birthplace : Baron.
Height : 162 cm.
Weight : 47 kg.
Job : White Wizard.
Là một White Wizard ở thành Baron. Rosa yêu Cecil ngay từ cái nhìn đầu tiên và cô cũng cảm nhận được tình cảm mà Cecil dành cho mình, mặc dù Cecil là một con người mồ côi và lạnh lùng. Quan tâm và lo lắng cho Cecil khi Cecil phải thực hiện nhiệm vụ ở Mist, Rosa linh tính có chuyện không lành và quyết định đi theo Cecil. Trong suốt quá trình chơi, bạn sẽ không ít lần chứng kiến sự buồn vui của đôi nhân vật này, nó phát triển cung bậc tình cảm rõ rệt. Ở giai đoạn đầu, với vai trò là White Wizard, Rosa gần như vô dụng. Mãi đoạn cuối của game, những phép tấn công Trắng của cô trở nên hết sức thuyết phục và là một trong hai mũi tấn công sắc bén đánh thắng siêu trùm Zemus.
Rydia
Age: 7.
Birthplace:Mist.
Height: 122 cm.
Weight: 37 kg.
Job: Caller.
Một đứa bé nhỏ của thị trấn Mist, nơi mà Cecil và Kain vô tình mang tai họa thảm sát toàn bộ dân làng khi mắc mưu đem đến cho dân làng những con quái vật. Chỉ có một mình Rydia sống sót. Song cô bé vẫn rất hoảng sợ, nhưng nhờ chính tấm lòng hướng thiện sửa sai lỗi lầm mà Cecil đã có một cô bé cực kỳ có ích cho trận đấu sau này.
Tellah
Birthplace: Mysidia.
Age: 60.
Height: 163 cm.
Weight: 46 kg.
Job: Sage.
Một pháp sư truyền thuyết vô cùng tài giỏi của xứ sở Myssidia, một xứ sở phép thuật, người mang một mối thù sâu đậm với Golbez khi đã giết đứa cháu gái yêu Anna. Gia nhập nhóm Cecil khi ông lên núi luyện phép thuật thì gặp Cecil đang mong muốn trở thành một Paladin truyền thuyết. Tellah muốn có lại được phép thuật mạnh mẽ nhất, Meteor, phép thuật có thể đánh gục được Golbez. Cuối cùng khi đã nhớ lại được phép thuật xưa, do tuổi già nên không thể đủ sức sống sót sau khi thi triển phép thuật truyền thuyết đó. Mặc cho mọi người ngăn cản, Tellah đã sử dụng đòn thế đó lên Golbez, rất đáng tiếc là Golbez không chết, nhưng Tellah đã hy sinh với cơn báo thù chưa được trả. Đây là nhân vật duy nhất trong Final Fantasy IV phải hy sinh.
Edward Van Muir
Age: 24.
Birthplace: Damcyan.
Height: 172 cm.
Weight: 58 kg.
Job: Bard.
Hoàng tử của Damcyan, người đã trốn đi cùng với Anna khi Tellah không chấp nhận đám cưới. Tuy vậy vận may không đến với họ. Đoàn tàu Red Wings đến cướp đi viên Crystal của Damcyan đã đem đi người yêu thương nhất Anna của Edward. Ban đầu, Tellah đổ lỗi cho Edward nhưng sau đó Tellah hiểu ra và mang mối thù với Golbez. Còn Edward thì gia nhập nhóm của Cecil và không ít lần giúp Cecil thoát chết bởi mưu kế của Golbez. Là một nhân vật rất yếu và may mắn cho ta là anh ta không tham gia vào giai đoạn cuối .
Yang
Birthplace: Fabul.
Age: 35.
Height: 169 cm.
Weight: 65 kg.
Job: Karate Master.
Một võ sỹ mạnh khoẻ nhất của xứ Fabul và đứng đầu lực lượng quân đội của Fabul. Cecil gặp Yang khi Yang đang tập luyện và bị tấn công bởi lực lượng của Golbez. Sau sự giúp đỡ của Cecil, Yang đã thuyết phục vua Fabul đồng ý cho Cecil và Yang bảo vệ viên Crystal của đất nước. Đến giữa trò chơi, Yang có một hành động rất anh hùng. Chịu ở lại trong một căn phòng với ba khẩu thần công sắp nổ để giữ cho chúng không bắn ra tiêu diệt một đất nước dưới lòng đất. May mắn thay, Yang thoát chết và có sự hỗ trợ tuyệt vời khi Cecil chiến đấu chống lại Zemus.
Cid Pollendia
Birthplace: Baron.
Age: 54.
Height: 151cm.
Weight: 87 kg.
Job: Engineer.
Trong các phiên bản Final Fantasy cái tên Cid luôn gắn với phi thuyền. Trong phiên bản này Cid là một thợ máy tài ba nhất thế giới. Người chế tạo ra hạm đội bay mạnh mẽ nhất, Red Wings. Sau này đi theo Cecil, Cid là người giúp cho Cecil nâng cấp những chiếc tàu bay trở nên mạnh mẽ hơn rất nhiều. Đó thực sự là những giúp đỡ lớn lao. Tuy điều khiển ít nhưng Cid lại gây cảm tình khi tự nguyện dùng thuốc nổ chặn đường hạm đội Red Wings dưới lệnh của Golbez truy đuổi Cecil. Rất may là Cid không bị chết.
Edge Geraldine
Age: 26.
Birthplace: Eblan.
Height: 175 cm.
Weight: 63 kg.
Job: Ninja.
Là một hoàng tử của đất nước Eblan, một đất nước với toà lâu đài bị tàn phá với quái vật đã phải di cư xuống hang động để chờ thời nổi dậy. Đã đi theo Cecil khi chứng kiên tài năng đánh gục Rubicant, một Friend tài giỏi, Friend of Fire. Là nhân vật xuất hiện giai đoạn cuối của game, anh ta có thể nói là vô dụng giai đoạn này, thua xa các nhân vật khác trong trận đánh trùm Zemus. Ngoài ra nhân vật này đối kháng dữ dội với Cid, và là người thầm yêu quý Rydia (Cái này tôi thấy khó hiểu bởi tuổi của cả hai).
Palom & Porom
Age: 5.
Birthplace: Mysidia.
Height: 125 cm.
Weight: 37 kg.
Class: Black Mage (Palom) and White Mage (Parom).
Palom và người chị sinh đôi của mình, Porom là hai cặp bài trùng vô cùng hiệu quả khi cả hai cùng hợp sức. Mỗi người mang một dạng phép thuật riêng. Palom học Black, Porom học White. Được nuôi dạy bởi vị pháp sư già ở Mysidia, cả hai rất hiệu động và vô tư. Hai đứa bé đã dẫn đường cho Cecil lên núi luyện thành Paladin theo truyền thuyết của Mysidia. Giữa trò chơi, hai đứa bé đã tự nguyện hoá đá để cíu thoát Cecil ra khỏi hai bức tướng ép lại bởi ma thuật của Golbez. Thật may là sau này hai đứa bé đã được giải thoát bởi phép thuật.
Fusoya
Age: Unknown.
Birthplace: Unknown.
Height: 166 cm.
Weight: Unknown.
Class: Lunarian.
Một người Mặt Trăng đầy bí ẩn và cực kè tài giỏi với toàn bộ các phép White và Black Magic. Là người đã giúp Cecil rất nhiều khi ở Mặt Trăng. Biết rất nhiều chuyện và là người mang mọi bí mật của trò chơi, FuSoYa đã cùng vơi một Golbez hoàn lương hợp sức tiêu diệt Zemus nhưng thất bại. Cuối cùng với sức mạnh của viên Light Crystal, Cecil đã giúp Fusoya hoàn thành trách nhiệm nặng nề: Tiêu diệt Zemus.
The Villains
Trước tiên là vua Baron nhưng ngay sau đó, Cecil đã phát hiện ra kẻ giật dây cho quốc vương là Golbez.
Golbez, kẻ thù nguy hiểm cũng là người anh em với Cecil. Là một kẻ độc ác, tàn bạo, thủ đoạn. Nhưng cuối cùng Golbez chỉ là nạn nhân và đã cùng với nhóm bạn Cecil chống lại kẻ thù nguy hiểm nhất của vũ trụ, Zemus kẻ đã bị phong ấn trên bề mặt của mặt trăng từ rất lâu.
Bốn con quỷ thuộc hạ của Golbez cũng có những thuộc tính riêng. Earth, Water, Air và Fire. Đó là Milon (Earth), Kainazzo (Water), Valvalis (Air) và Rubicant (Fire). Tuy Rubicant mới đầu xuất hiện với dáng vẻ oai phong nhưng thực ra, tất cả nhưng tên thuộc hạ đều rất yếu.
Game & Battle system
Final Fantasy IV có thể nói là nền tảng cho những game đỉnh cao về sau như Final Fantasy VI hay Final Fantasy IX. Toàn bộ game là một sự sáng tạo của Square so với những game trước. Mỗi nhân vật có một đặc điểm riêng không thể pha trộn hay đổi jobs như trước. Các nhân vật có điểm mạnh yếu mà ta cần khai thác. Cũng không thể thay đổi thành phần nhân vật theo ý mình nên chú ý kết hợp đa dạng giữa phép thuật và tấn công.
Hệ thống battle cải tiến khá nhiều. Về mặt đồ họa thì sự xuất hiện đa dạng và hài hoà của khung nền gây nhiều cảm hứng cho gamer thời đó. FF IV còn ra mắt một dạng chiến trận mới mà ngày nay vẫn tồn tại trong các game FF: Active Time Battle. Hệ thống này đã lật đổ chế độ chơi theo lượt truyền thống với sự khẩn trương gấp rút tạo nên sự thú vị cho người chơi. Tuy nhiên, trong battle, hệ thống này chỉ có thể nhận biết bởi cách ra đòn chứ thanh ATB vẫn chưa xuất hiện trong trận đánh.
Số nhân vật điều khiển cùng lúc đạt tối đa: 5 nhân vật, tăng độ hỗ trợ lên rất nhiều trong game và rất lý thú.
Cách tính Level và Exp vẫn như cũ, không có nhiều thay đổi.
Còn một điều chú ý cho ai muốn chơi Final Fantasy IV. FF IV quái vật lúc ban đầu rất dễ, không hề đáng ngại. Kể cả trùm cũng thế, nếu chịu khó luyện Lv một chút là ổn. Điều tôi muốn nói là giai đoạn về cuối của game. Có những trận đánh rất khó. Điển hình như một con trùm bình thường. Khi mới vào trận nó cast Count (bây giờ là Doom) lên cả 5 nhân vật với khả năng bị nhiễm là 100%. Trong 10 số đếm, nhân vật sẽ tiêu. Và với lượng HP cao chót vót, cả nhóm không thể hạ được với 10 số đếm như vậy. Và điển hình cực cao nữa là con trùm Zemus, kẻ sau khi bị hạ bởi Light Crystal đã biến thành con quái vật Zeromus. Có lượng HP siêu cao vào lúc đó. Không có những đòn sát thủ như Ozma của FF9 tấn công đồng loạt tất cả nhân vật và. Nhưng Zeromus có đòn tấn công làm chết một đối thủ, và đòn đó được tung ra thường xuyên. Đòn thế của Final Fantasy IV không nhiều như các phiên bản về sau như có thể Revive hay Auto-Life nên cần phải chú ý khi oánh với nó. Tấn công sức mạnh thì cực chuối - yếu vật. Nói thể để ai muốn thử biết cách mà đánh. Đây có lẽ là con trùm cuối khó nhất trong các phiên bản Final Fantasy.
Như tôi đã nói có hai loại Final Fantasy Easy và Hard. Bản thân tôi mới chơi bản Easy. Bản Hard không được phát hành bằng Tiếng Anh mà được dịch không dưới danh nghĩa của Square. Trong phiên bản Hard thì hạn chế một số command trong trận đánh khiến cho cách chơi có khó hơn. Mặt khác lời thoại thay đổi khá nhiều dù cho cốt truyện vẫn không thay đổi. Một số tình tiết có hơi thay đổi dù ko ảnh hưởng nhiều. Tên các nhân vật, sự kiên, phép thuật có thay đổi. Như trong phiên bản tiếng Nhật thì Fire, Faira, Faiga thì phiên bản Easy là Fire 1, 2, 3. Tên nhân vật cũng có thay đổi, ví dụ Kain là Cain, Tellah là Tella, Fusoya là Foo-soo-ya... Noi chung la dzay...
The Graphics & Music
Tôi rất ấn tượng với đồ hoạ của Final Fantasy IV. Nó không rực rỡ như bây giờ, nhưng với hệ máy SNES, quả thực nhưng khung cảnh của nó rất dịu mắt và không gây chói loá như Final Fantasy I & II. Trông những ngôi nhà, hay cây cối lại thấy rất vui mắt.
Phần âm nhac, Great, rất tuyệt, âm nhạc đã tận dụng tối đa khả năng của hệ máy chơi game nổi tiếng này. Âm thanh cực kỳ truyền cảm và báo hiệu một thời kỳ đỉnh cao của Nobuo Uematsu. Tôi rất thích những bản nhạc ở mỗi khu vực và kể cả nhạc nền trong trận đánh. Rất tuyệt. Nói cho cùng, nó hay ngang như Final Fantasy IX hay bất kỳ phiên bản nào.
Final Recommendation
Một game cực kỳ tuyệt vời, bạn sẽ không thể chê khi tham gia chuyến phiêu lưu của người anh hùng Cecil, con người mang rất nhiều tính cách có dáng dấp cho một phiên bản hiện đại của Final Fantasy. Hãy down nó về và thưởng thức. Enjoy.
Final Fantasy V
Title: Final Fantasy V
Platforms: Super Famicom/Nintendo
Japan - 06/12/1992
Title: Final Fantasy V
Platforms: PlayStation 1
Japan - 18/03/1998
Title: Final Fantasy Collection (Final Fantasy IV + Final Fantasy V + Final Fantasy VI)
Platforms: PlayStation 1
Japan - 11/03/1999
Title: Final Fantasy Anthology (Final Fantasy V + Final Fantasy VI)
Platforms: PlayStation 1
United States - 30/09/1999
Title: Final Fantasy Anthology (Final Fantasy IV + Final Fantasy V)
Platforms: PlayStation 1
Europe - 17/05/2002.
The History
Những gamer đã mong ngóng Final Fantasy V bản tiếng Anh từng giờ kể từ khi bản tiếng Nhật được tung ra cuối năm 1992. Ban đầu, Final Fantasy V được công bố là Final Fantasy III US. Tuy nhiên kế hoạch gặp phải một số khó khăn ngoài dự kiến. Có rất nhiều lý do vào lúc này, có người cho rằng mối quan hệ của Square và Nintendo đang gặp nhiều trở ngại. Final Fantasy V cuối cùng đã không thể ra mắt các gamer ở Mỹ và thay vào đó, Final Fantasy VI được giao cho trách nhiệm đó.
Năm 1995, Square có ý định hồi sinh Final Fantasy V với tên Final Fantasy Extreme nhắm vào những fan trung thành của Final Fantasy. Tuy nhiên một cuộc cải tổ hoàn toàn của Square vào đầu năm 1996 đã làm vỡ tan giấc mơ của người hâm mộ. Lúc này Square cắt đứt quan hệ với Nintendo và bắt tay hợp tác với Sony. Cuộc chuyển hướng phát triển đã nhấn chìm Final Fantasy Extreme và chia tay thời đại 16-bits lỗi thời của Super Nintendo.
Đến năm 1997, Final Fantasy V lại gây được sự chú ý của mọi người khi Eidos công bố rằng bên cạnh Final Fantasy VII, Final Fantasy V và Final Fantasy VI cũng sẽ được phát triển cho PC trên hệ điều hành Windows 95. Sự kiện này đã được nhiều gamer mong đợi. Nhưng cuối cùng, những fan của Final Fantasy lại thất vọng khi Eidos đã huỷ bỏ dự án này mà chỉ cho ra mắt Final Fantasy VII.
Cuối cùng đến năm 1999, Square cho phát hành Final Fantasy Collection gồm các bản Final Fantasy trên hệ máy SNES và Final Fantasy Anthology. Final Fantasy Anthology bao gồm bản dịch của FF V và FF VI cho máy PlayStation.
Tuy nhiên, lúc này một số gamer nhiệt huyết đã giới thiệu của files roms cho các phiên bản Final Fantasy không được dịch sang tiếng Anh bao gồm cả Final Fantasy V. Bản dịch này gây được sự chú ý nhiều hơn các bản dịch chính thức của Square. Và những gamer lại được thoả nguyện khi họ tìm đến bản dịch Tiếng Anh này
The Story
Một ngày kia, vị vua tốt bụng của lâu đài Tycoon cảm nhận thấy sự thay đổi bất thường của thời tiết đã đến Wind Shrine để tìm hiểu. Sau vụ mất tích của đức vua, hàng loạt sự kiện kỳ lạ đã xảy ra, gió bỗng nhiên ngừng thổi, tất cả mọi người đều hoang mang lo sợ một điều bất lành sẽ đến. Một viên thiên thạch rơi xuống trái đất, đầy bí hiểm. Đứa con gái nhỏ bé Lenna quyết lên đường tìm sự thật cứu cha. Không may, giữa đường Lenna bị bọn quái vật bao vây, và đó là lúc Butz bắt đầu chuyến hành trình dài của mình xung quanh sự kiện bí hiểm của những viên Crystal.
Một cốt truyện khá dài của Final Fantasy V là một điểm vô cùng hấp dẫn người chơi. Xoay quanh những sự kiện bí hiểm của viên Crystal, khi mà một ngày nọ, chúng bị tan vỡ làm trăm mảnh. Thế giới dần mất đi năng lượng của chúng. Đầu tiên là viên Wind Crystal, gió bỗng nhiên ngừng thổi. Rồi viên Fire Crystal, lửa không còn bốc cháy... Mọi người lo sợ. Rồi những viên thiên thạch khổng lồ rơi xuống Trái Đất. Tất thảy đều lo lắng khi những viên Crystal tan biến, cuộc sống sẽ ra sao. Nhưng ẩn sau hàng loạt sự kiện kỳ bí đó, là một sự thật ở một thế giới khác. Một phù thuỷ bị ấn phong bởi bốn chiến binh cách đây 30 năm. Và những viên Crystal giữ năng lượng những thiên thạch phong ấn hắn đã bị phá tan. Điều đó có nghĩa là Exdeath - một tên phù thuỷ độc ác sẽ thoát khỏi ấn phong và hoành hành. Và đó là lúc Butz, Lenna, Galuf, Faris và Klire bắt đầu hành trình tiêu diệt cái ác. Họ lại trở thành những chiến binh của 30 năm về trước thay mặt loài người, chôn vùi cái ác mãi mãi...
The Heroes
Butz Klauser
Age: 20
Height: 176cm
Weight: 58kg
Birthplace: Lix
Mẹ của Butz mất khi Butz mới ba tuổi. Cậu bé đã cùng cha, Dorgann, bước vào cuộc hành trình dài vòng quanh thế giới. Nhưng cách đây chỉ ba năm, cha của Butz cũng lại ra đi sau một cơn bạo bệnh. Không phải là con người dễ hoà đồng nhưng lại rất ngay thẳng. Butz thích cuộc sống tự do hơn là sống gò bó trong một thị trấn sầm uất. Butz đã gặp một chú Chocobo và bắt đầu cuộc hành trình với chú Chocobo. Đó là Boko. Lần đầu tiên Butz gặp Lenna là lúc cô đang bị lũ quái vật uy hiếp, và chàng trai thích phiêu lưu này lập tức bị cuốn theo câu chuyện kỳ bí của những viên Crystal.
Lenna Charlotte Tycoon
Age: 19
Height: 161cm
Weight: 45kg
Birthplace: Tycoon
Một cô công chúa hiền lành của thành Tycoon. Bảy năm về trước, Nữ hoàng Tycoon, mẹ của Lenna đã mất sau một trận ốm kỳ lạ. Lúc đó để có thể cứu chữa, phương thuốc là cần kiếm được cái lưỡi của con Hiryuu - một con rồng thân thiết của Lenna. Biết Lenna sẽ rất đau buồn về chuyện này, Đức vua thành Tycoon đã sai rất nhiều thày thuốc trên khắp thế giới để trị bệnh nhưng Nữ hoàng vẫn chết. Sau sự việc này, Lenna đã trở thành một chỗ dựa tinh thần lớn lao cho Đức vua Tycoon.
Galuf Doe
Age: 60
Height: 168cm
Weight: 64kg
Birthplace: Unknown
Một người đàn ông già được Butz và Lenna tìm thấy ở gần viên thiên thạch rơi xuống cách Tycoon không xa. Tỉnh dậy sau cú shock và dường như Galuf đã bị mất trí nhớ. Galuf là ai ? Tại sao ông lại xuất hiện gần nơi thiên thạch rơi xuống ? Và sự thật dần vén lên khi trí nhớ Galuf dần dần hồi phục trong trò chơi. Cách đây 30 năm, bốn chiến binh của thế giới khác đã chiến đấu và giam giữ tên phù thuỷ Exdeath trong một phong ấn. Một trong những chiến binh đó tên là Galuf…
Faris Scherwiz
Age: 20
Height: 172cm
Weight: 53kg
Birthplace: Unknown
Sống cùng với bọn cướp biển từ nhỏ, Faris luôn sống khép mình như một con sói cô độc. Năm năm trước đây, một trận xoáy nước khổng lồ xuất hiện trước con thuyền hải tặc. Tất cả thuỷ thủ ra sức chống đỡ. Nhưng chính Faris đã nhảy xuống xoáy nước tìm hiểu nguyên nhân của con xoáy nước kỳ lạ. Tất cả đều nghĩ rằng Faris sẽ chết, nhưng một lát sau, Faris đã quay trở lại với một con rồng biển tên là Sydra. Sau đó, toàn thể bọn hải tặc đều ngưỡng mộ và Faris trở thành một tướng cướp trẻ nhất của bọn chúng.
Là nữ tướng cướp giả trai. Faris đã bắt Lenna và Butz vào phòng tối khi biết Lenna là công chúa thành Tycoon. Nhưng ngay sau đó, một mặt dây chuyền đã thay đổi trong lòng cô gái sắt đá này. Một mặt dây chuyền của công chúa Lenna và nó giống như mặt dây chuyền Faris mang theo từ nhỏ. Và đó là lúc Faris biết Lenna là em gái mình - một công chúa danh giá. Faris đã cùng Lenna giúp Lenna đi tìm Đức vua Tycoon - người cũng chính là cha của Faris.
Klire Mire Baldesion
Age: 14
Height: 154cm
Weight: 40kg
Birthplace: Bal
Từ nhỏ, Klire đã có thể nói chuyện với những con Moggle và Hiryuu. Là cháu gái của Galuf, cô bé đã dần dần giúp cho Galuf hồi phục trí nhớ và cùng Galuf trở về thế giới của mình khi Exdeath sống lại.
Bên cạnh đó là những nhân vật khác.
Bốn chiến binh hy vọng của 30 năm trước.
Zezae Matias Surgate
Age: 58
Height: 177cm
Weight: 69kg
Birthplace: Surgate
Vị vua của thành Surgate. Là người giỏi kiếm pháp và phép thuật. Với cách phán đoán xét xử lạnh lùng, ông còn có cái tên là “Zezae of Ice”. Không có gia đình nhưng Zezae có được nhiều sự ngưỡng mộ từ người dân.
Kelger Vlondett
Age: 63
Height: 174cm
Weight: 52kg
Birthplace: Quelb
Thủ lĩnh của Quelb. Chỉ huy những người sói, Kelger có những khả năng rất tự nhiên và hữu ích trong trận đánh. Với độc chiêu “Lupine attack” mà không có đổi thủ cho tới khi Dorgann hoá giải nó.
Galuf Halm Baldesion
Age: 60
Height: 168cm
Weight: 64kg
Birthplace: Bal
Là vua của thành Bal. Một chiến sỹ từng phong ấn Exdeath đã bị mất trí nhớ khi rơi xuống cùng viên thiên thạch nọ. Galuf đã sử dụng cái tên Galuf Doe khi mất trí nhớ.
Dorgann Klauser
Age: 51
Height: 170cm
Weight: 59kg
Birthplace: Regole
Người trẻ nhất trong bốn chiến binh nhưng với tài dùng kiếm của mình mà Dorgann được trở thành những anh hùng huyền thoại. Là người từ chối phong ấn Exdeath ở vùng đất bí mật, song lại là người luôn canh giữ mảnh đất đó đề phòng sự trở lại của Exdeath. Chính là cha của Butz người đã chết cách đây ba năm sau khi mắc một căn bệnh.
The Villains
Exdeath
Có nguồn gốc là từ cái cây, ngủ ở khu rừng Muah. Một sức mạnh đen tối đã chiếm hữu cái cây này và từ đó, một phù thuỷ độc ác Exdeath xuất hiện. Lf cội nguồn của mọi điều xấu xa trên đời, hắn tìm kiếm một nguồn sức mạnh hư vô để có thể điều khiển thế giới. Cùng với những tham vọng của mình, hắn sẽ không thể ngừng chiến đấu khi mà những mục đích đáng sợ đó chưa thành hiện thực. Cái tên Exdeath có nghĩa là EXceeding DEATH.
Game & Battle System
Xuất hiện trong battle lần đầu tiên, thanh ATB đã mang đến một cách chơi mới cho dòng game Final Fantasy. Tuy vẫn có những hạn chế, như không thể chọn đòn tấn công khi quân ta hay quân địch đang tấn công song Final Fantasy V vẫn gây sự hấp dẫn của người chơi bởi hệ thống tuy mới mà cũ: Jobs.
Hệ thống Jobs của Final Fantasy V về mặt số lượng giống vơi Final Fantasy III. Nhưng nó cải tiến về nhiều mặt khiên cho hệ thống này có thể thú vị nhất các phiên bản từ trước đó. Việc đổi jobs không cần phức tạp như Final Fantasy III, không cần có capacity để đổi. Nhưng bù vào đó. Mỗi nhân vật lại có một level riêng cho Jobs. Ví dụ như Butz có thể Level 99 nhưng level đối với White Wizard có thể chỉ là 1. Mỗi Jobs ở một Level khác nhau lại có khả năng đặc biệt khác nhau. Mỗi Ability có thể gắn cho mỗi nhân vật như Final Fantasy VIII vậy. Chính vì thế mỗi Jobs có đặc điểm riêng. Nhân vật ở Jobs này có thể có được những Ability của Jobs khác nếu như Ability đó được học. Đó là điểm cải tiến rất nhiều so với Final Fantasy III.
Mặt khác, đồ hoạ của phiên bản này không làm bạn nhàm chán bởi mỗi nhân vật dù cùng job thì hình dáng cũng khác nhau hoàn toàn chứ không như Final Fantasy III.
Hệ thống Item cũng cải thiện. Nêu các phiên bản trước, các slot cho bảng Item quá ít và phụ thuộc vào Chocobo chứa đồ thì Final Fantasy V đã có bảng Item có thể chứa hết các đồ có thể có trong game. Nó không gây hạn chế cho người chơi khi lưu trữ Item. Cũng là lần đầu, một con Chocobo đã gắn liền với hình ảnh nhân vật chính, gắn với cốt truyện một phần nào đó. Chocobo đã trở thành một nhân vật không thể thiếu.
Trên PlayStation nè
The Graphics and Music
Nhận xét về hai cái này, tôi không có cảm tình với chúng như Final Fantasy IV. Miễn cho nhá ^_^. (Rõ là thiên vị)
Final Recommendation
Một game khá với hệ thống Jobs tuyệt vời là tiền thân cho cách chơi sau này của Final Fantasy. Dù không được như Final Fantasy IV và VI (Ý kiến chủ quan ) nhưng là phiên bản rất tuyệt
Final Fantasy VI
Title: Final Fantasy VI
Platforms: Super Famicom/Nintendo
Japan – 02/04/1994
Title: Final Fantasy III
Platforms: Super Famicom/Nintendo
United States – 11/10/1994
Title: Final Fantasy VI
Platforms: PlayStation 1
Japan - 11/03/1999
United States – 11/03/1999
Europe – 01/03/2002
Title: Final Fantasy Collection (Final Fantasy IV + Final Fantasy V + Final Fantasy VI)
Platforms: PlayStation 1
Japan - 11/03/1999
Title: Final Fantasy Anthology (Final Fantasy V + Final Fantasy VI)
Platforms: PlayStation 1
United States - 30/09/1999
The History
Final Fantasy VI là một thành công vĩ đại của Square ở Nhật Bản, nó lôi cuốn được rất nhiều gamer dù họ chưa bao giờ chơi thể loạiRPG. Tuy nhiên Final Fantasy VI vẫn không làm cho thể loại RPG thoát khỏi tình trạng bế tắc lúc đó. Sau đó vài tháng Final Fantasy VI ra mắt trên đất Mỹ tuy nhiên nó không được thành công như ở thị trường Nhật Bản. Cũng như Final Fantasy V, Eidos đã làm những gamer thất vọng khi không ra mắt bản dịch của Final Fantasy cho máy PC.
Tuy vậy đến năm 1999, bản Final Fantasy VI cho PlayStation đã phát hành ở Mỹ và Nhật. Về cơ bản nội dung hoàn toàn giống bản Final Fantasy VI của 5 năm trước nhưng những đoạn movies tuyệt vời đã làm cho người chơi hứng thú khi họ lại thưởng thức những đoạn phim mà đồ họa trên Super Nintendo không đáp ứng được. Đến tận năm 2002, bản dịch cho PlayStation mới sang tới Châu Âu, và gamer xứ Âu đã được lợi rất nhiều khi phiên bản này được bán kèm với demo của Final Fantasy X lúc đó.
The Story
Long ago, the War of the Magi
reduced the world to a
scorched wasteland, and magic
simply ceased to exist.
1000 years have passed… Iron,
gunpowder, and steam engines
have been rediscovered, and
high technology reigns…
But there are some who
would enslave the world by
reviving the dread destructive
force known as “magic.”
Can it be that those
in power are on the verge of
repeating a senseless
and deadly mistake?
Từ hàng ngàn năm trước, những chiến binh dữ tợn đã có một cuộc chiến tranh vô nghĩa. Họ được gọi là Magi là những người mà phép thuật có được nhờ sự hỗ trợ của Esper. Cuộc chiến tranh Magi đã đẩy loài người vào tình trạng hỗn loạn và đưa cả hành tinh trở thành một hoang mạc khô cằn và không có sức sống. Tuy nhiên loài người vẫn sống sót và phục hồi lại thế giới của mình. Để ngăn trừ một cuộc chiến tranh khác, loài người đã khước từ sức mạnh của Esper. Họ không kể cho con cháu mình nghe về sức mạnh của Esper và rồi dần dần câu chuyện về những vị thần đó đã lui vào câu chuyện cổ tích của lũ trẻ và sự tồn tại của Esper được coi như một câu chuyện được hư cấu…
1000 năm sau, loài người bắt đầu tiến hoá… Đồng, sắt được tìm thấy và máy hơi nước đã mở ra một kỷ nguyên của nền công nghệ cao… Đó là thời kỳ của Đế chế Magitek. Dưới sự lãnh đạo của hoàng đế Gestahl nhưng những tham vọng điên cuồng của tên tướng dưới quyền là Kefka, đế chế Magitek sử dụng những năng lượng của các Esper còn sót lại để tăng cường cho bộ áo giáp Magitek của chúng. Một bộ áo giáp khi mặc vào sẽ có được một sức mạnh kinh khủng và khả năng phép thuật sẽ tăng mạnh. Kefka đã bắt Terra - một cô gái bí ẩn có thể là một trong những người có khả năng sử dụng phép thuật còn sót lại. Hắn sử dụng cái vòng trên đầu Terra để khống chế và bắt Terra vâng lệnh của mình. Một lần khi nghe tin một Esper được tìm thấy ở Narshe, hắn đưa Terra cùng Biggs và Wedge, hai người lính Magitek khác đến điều tra. Một trận đánh với Esper huyền thoại đã giết chết Wedge và Biggs, còn Terra thì bị ngất đi. Cô được một ông lão ở Narshe cứu sống và vô tình tháo chiếc vòng đội đầu ra. Terra thoát khỏi sự kiểm soát của Kefka, nhưng dường như trí nhớ của cô về thân phận của mình vẫn chưa được sáng tỏ. Đó là lúc cuộc hành trình của cô và đồng đội bắt đầu.
Liệu Terra có ngăn được Kefka cùng những tham vọng điên cuồng của hắn, người gieo giắc nỗi khổ lên không chỉ thế giới loài người mà còn cả thế giới Esper? Liệu con người có mắc phải lỗi lầm điên rồ của hơn 1000 năm trước? Đó là lời giải đáp của Final Fantasy VI…
The Heroes
Terra Branford: Gifted Magic Warrior
"A mysterious young woman, controlled by the Empire, and born with the gift of magic."
Age: 18
Height: 160 cm
Weight: 48 kg
Là cô gái bí ẩn, kết quả của một tình yêu giữa một người phụ nữ bình thướng Madonna và một Esper là Maduin. Lúc đó, Gestahl đã từng đưa người đến thế giới của Esper nhằm mục đích thu lấy năng lượng của Esper. Madonna đã bế Terra bỏ đi mặc sự ngăn cản của Maduin. Trong khi đó, để tự bảo vệ, những Esper buộc lòng dùng sức mạnh phong ấn cánh cửa duy nhất thông giữa hai thế giới. Gestahl cùng Terra và Madonna bị văng ra ngoài. Gestahl phát hiện Terra là một đứa trẻ lai với Esper liền đem đứa trẻ nhằm phục vụ lợi ích sau này. Quá trình đấu tranh giữa con người và Esper diễn ra rất phức tạp trong lòng Terra. Nhưng khi Terra nhận được lòng yêu thương từ những đứa bé đã coi Terra như mẹ nuôi sau khi thế giới bị Kefka phá huỷ, Terra cảm thấy phần người trỗi dậy. Và đến lúc kết thúc game, khi mà tất cả Esper đều tan biến bởi sự tiêu diệt của chính Kefka, những tưởng Terra sẽ biến mất nhưng đó chính là lúc một nửa con người kia lên tiếng, giữ Terra lại với 13 người bạn đồng hành.
Locke Cole: Treasure Hunter
"Treasure Hunter and trail-worn traveller, searching the world over for relics of the past..."
Age: 25
Height: 175 cm
Weight: 67 kg
Một con người tốt bụng, một người bạn thân của Terra. Đây là nhân vật xuất hiện vào đoạn đầu của trò chơi, khi cứu thoát cho Terra thoát khỏi sự truy bắt của quân lính khi Terra thoát khỏi sự kiểm soát của Kefka. Locke có thể nói là một con người rất galant. Có nhiều người rất nhầm lẫn luôn cho rằng nhân vật chính phải yêu nhau nhưng thực sự trong Final Fantasy VI, người mà Locke luôn muốn bảo vệ và luôn hứa bảo vệ không phải là Terra mà lại là Celes. Là một tay trộm nhanh nhẹn và thông minh, Locke có khả năng đặc biệt và là người duy nhất có thể “Steal” từ đối thủ.
Edgar Roni Figaro: Mechanic
"The young king of Figaro Castle, ally to the Empire, and a master designer of machinery..."
Age: 27
Height: 183 cm
Weight: 77 kg
Là vị vua trẻ tuổi của thành Figaro, Edgar đã gia nhập nhóm người nổi dậy chống đối lại Kefka cùng với Locke và Terra. Được sự giúp đỡ của Edgar, cả ba đã cùng chạy trốn khi Kefka chạy trốn khỏi lâu đài, mặt khác thành Figaro cũng chìm xuống lòng đất để tránh rắc rối với Kefka. Là anh trai của Sabin, một mối quan hệ lằng nhằng của hoàng đế lúc trước đã gây ra một số mối bất đồng trong tình cảm anh em giữa họ. Và thắt nút dần dần gỡ giải trong quá trình chơi.
Sabin Rene Figaro: Blackbelt
"Edgar's twin brother, who traded the throne for his own freedom.."
Age: 27
Height: 190 cm
Weight: 105 kg
Là em trai của Edgar và là người kế thừa ngai vàng của vua cha. Nhưng Sabin lại thích sự tự do và trốn lên núi tập võ với Ducan. Sabin là nhân vật rất mạnh mẽ trong nhóm với Strength rất cao và khả năng sát thương cực lớn
Shadow: Ninja
"He owes allegiance to no one, and will do anything for money. He comes and goes like the wind..."
Age: 30
Height: 178 cm
Weight: 66 kg
Là ninja đơn độc, Shadow tiếp xúc rất nhiều lần với nhóm nhưng với thân thể bí ẩn thoắt ẩn thoắt hiện. Là người đi khắp thế giới và chỉ tin tưởng vào con chó trung thành, Interceptor. Quá khứ của Shadow cũng như cái tên của anh, bao phủ bởi nhiều bí mật. Chúng luôn được khám phá qua những cơn ác mộng của chính Shadow.
Celes Chere: Rune Knight
"Product of genetic engineering, battle-hardened Magitek Knight with a spirit as pure as snow..."
Age: 18
Height: 172 cm
Weight: 58 kg
Một nữ tướng sinh ra trong phòng thí nghiệm, từng dưới quyền của Gestahl, nhưng sau đó lại bị giam trong ngục. Được Locke và Terra giải thoát, Celes đã gia nhập vào nhóm. Là nhân vật nữ được mến mộ nhất trong trò chơi, Celes có cảm tình rất đặc biệt với Locke. Trong giai đoạn sau của game, Celes lại là người có vai trò chủ đạo. Một quá trình miêu tả nội tâm sâu sắc của Celes cũng như tâm trạng chung của bất cứ ai khi không còn một người thân kề bên được Square chú trọng và miêu tả rất kỹ.
Cyan Garamonde: Noble Knight
"Faithful retainer to his family's liege, with the courage and strength of a hundred men..."
Age: 50
Height: 178 cm
Weight: 72 kg
Một hiệp sỹ nghĩa hiệp và quả cảm, xuất thân từ Doma – nơi toàn bộ mọi người đều bị trúng độc do nằm gần nơi chế tạo Magitek Armor của Kefka. Vợ con, hoàng tộc đều bị chết. Cyan đã liều chết xông ra đánh Kefka song quân số quá đông. Chính nhóm Sabin và Locke đã giải cứu Cyan khỏi vòng vây và từ đó Cyan gia nhập nhóm chống lại Kefka.
Gau: Wild Child
"Draped in monster hides, eyes shining with intelligence. A youth surviving against all odds..."
Age: 13
Height: 163 cm
Weight: 50 kg
Một đứa trẻ mồ côi từ nhỏ, Gau sống với thú dữ, với núi rừng mà không được ai chăm sóc. Có tính cách hoang dại nhưng Gau lại đi theo nhóm khi được cả nhóm ném cho thức ăn. Một đứa trẻ rất kỳ lạ bởi cách ra đòn khác thường của mình và hơi khó hiểu cho những ai sử dụng cậu bé này. Sau này, bạn sẽ chứng kiến một cảnh rất cảm động khi Gau gặp lại người cha đã bỏ rơi mình hồi nhỏ - một hành động rất người lớn của Gau.
Setzer Gabbiani: Gambler
"A blackjack-playing, world-travelling, casino-dwelling free spirit..."
Age: 27
Height: 175 cm
Weight: 62 kg
Một con người máu mê cờ bạc và cũng máu mê chế tạo phi thuyền. Một sở thích nữa của Setzer là Maria, một nghệ sỹ opera nổi tiếng. Trớ trêu thay Celes đã từng đóng một vở opera với hình dáng rất giống Maria. Setzer đã táo bạo đề nghị Celes phải trở thành vợ của mình mới cho cả nhóm mượn phi thuyền. Tất nhiên Locke không đồng ý và một canh bạc đã diễn ra, Setzer đã thua và trở thành đồng đội của cả nhóm
Strago Magus: Ancient Lore Master
"An elderly gentleman, pure of heart, and learned in the ways of monsters..."
Age: 70
Height: 151 cm
Weight: 43 kg
Hậu duệ của những chiến binh phép thuật, người có phép thuật mạnh nhất ở Thamasa – ngôi làng với những người dân có khả năng sử dụng magic. Trong một sự kiện của ngôi làng nhỏ bé, toà nhà bị cháy vô tình nhốt đứa cháu gái Relm ở trong, cả nhóm đã xông vào cứu cô bé và Strago đã cảm kích đi theo Terra.
Relm Arrowny: Artist
"In her pictures she captures everything: forests, water, light... the very essence of life..."
Age: 10
Height: 153 cm
Weight: 40 kg
Cháu gái của Strago và cũng là người rất yêu quý con chó Interceptor của Shadow. Cũng như Gau, cô bé có thể không thực sự hữu dụng cho lắm
Mog: Moogle Warrior
"Human-loving, fast-talking, street-smart, SLAM-dancing... Moogle..."
Age: 11
Height: 122 cm
Weight: 43 kg
Một con Mog đáng yêu của Final Fantasy VI, đây là phiên bản đầu tiên mà Moogle xuất hiện và cũng là duy nhất Mog trở thành quân ta. Sống cùng cả gia đình ở Narshe, chính Mog là người đã cứu Terra cùng Locke thoát khỏi quân lính ở Narshe. Về sau khi cứu Mog thoát khỏi vực sâu, Mog đã đi theo Terra với vai trò của một nhân vật phụ.
Umaro: Yeti
"Admirer of bone carvings, as strong as a gigas, a yeti pal with muscle!"
Age: 4
Height: 181 cm
Weight: 187 kg
Một nhân vật phụ, là người bạn khổng lồ của Mog, Umaro luôn luôn nghe theo sự điều khiển của Mog. To lớn và khoẻ mạnh, nhưng Umaro rất hạn chế bởi không có khả năng tự hành động mà phải phụ thuộc vào Mog. Đây không phải là mẫu nhân vật khi đánh trùm cuối.
Gogo: Mimic
"Shrouded in odd clothing, ...is this a man...? ...a woman...? ...or should we ask...?"
Age: Unknown
Height: 163 cm
Weight: 57 kg
Một nhân vật rất thú vị, anh ta có khả năng bắt chước các nhân vật khác trong các trận đánh. Nhờ khả năng đó mà bạn có thể cho anh ta những command đặc trưng bởi nhân vật bất kỳ trong nhóm. Rất thú vị, chỉ tiếc xuất hiện quá muộn mang nên nhân vật này không phát huy hết khả năng và không được sử dụng nhiều bởi không có thời gian đi luyện.
The Villains
Kẻ thù lớn nhất phải kể đến là Kefka, kẻ đứng đằng sau những việc làm của Đế chế Magitek, điều khiển hành động nhằm bành trướng lực lượng. Sau này mãi Gestahl mới nhận ra điều đó nhưng đó lại là lúc Kefka giết chết Gestahl và đẩy tên hoàng đế xấu số từ trên không trung xuống. Một nhân vật Kefka có nụ cười xảo quyệt là điều bạn không thể quên được trong Final Fantasy VI.
Game & Battle System
Nói đên Final Fantasy VI, bạn có thể thấy đây là bước nhảy của Final Fantasy IV và là những cơ sở cho Final Fantasy IX sau này. Mỗi nhân vật đặc trưng có một khả năng đặc biệt với những command rất riêng biệt. Locke có thể Steal, Edgar có thể dùng Tool, Sabin và Cyan lại cực mạnh với chiêu Blitz và Sword Tech… Điều đó tận dụng tối đa khả năng của mỗi nhân vật, mỗi người có khả năng rất hay. Một điêu nữa, đây là phiên bản bắt đầu có sự xuất hiện của Limit Breaks - chỉ xuất hiện khi các nhân vật bị đánh một đòn lớn và lâm vào tính trạng nguy kịch, tuy vậy những đòn này rất ngẫu nhiên, chưa hoàn thiện như các phiên bản về sau. Terra có Riot Blade, Locke có Mirager, Edgar có Royal Shock, Sabin có Tiger Break… Đó là điểm rất mới trong Final Fantasy VI
Các Esper cũng đa dạng hơn rất nhiều, việc tìm kiếm đủ 27 Esper có thể nói là thử thách khắc nghiệt với người chơi, nhiều Esper rất khó kiếm công với việc tìm kiếm đủ nhân vật làm tăng thêm rất nhiều quest cho game.
Việc tăng sức mạnh có thể thấy rõ rệt nhờ hai cách: Esper và Rulic. Esper không có nhiều khả năng như Final Fantasy VIII nhưng mỗi Esper có khả năng đặc biệt cho phép nhân vật học Magic (hợp lý với cốt truyện) đồng thời có thể cho phép nhân vật mỗi khi lên level được tăng một chỉ số nào đó như Ifrit thì Str+1 chẳng hạn. Hệ thống Rulic cho phép kết hợp hai Rulic chứ không còn là một như các phiên bản trước. Không nhiều và đặc sắc như Final Fantasy VII nhưng Rulic là tiền thân của Materia sau này. Có nhiều trường hợp hai Rulic kết hợp với nhau cho khả năng khá tuyệt diệu cho phép nhân vật tấn công một lúc 8 đòn thế, hay tăng khả năng cho phép thuật. Đó là sự thú vị của gamer thời đó.
Đáng tiếc là Final Fantasy VI không có những con trùm siêu mạnh như phiên bản trước nó là Final Fantasy V (với siêu trùm Omega) nhưng độ khó của nó cũng được bàn đến rất nhiều.
Riêng về con vật mới là Moogle đã lần đầu xuất hiện trong hình ảnh khá dễ thương, tuy vậy Chocobo không phải là quan trọng lắm trong phiên bản này. Chúng chỉ có mục đích duy nhất - cưỡi cho vui.
And PlayStation
Fanart của Terra siêu đẹp, bà con nhỉ
The Graphics and Music
FF VI có thể là một trong những game 2D có đồ hoạ tuyệt vời nhất (cùng với Chrono Trigge, Final Fantasy VI là một trong hai game hay nhất của Square trên hệ máy SNES). Nhiều người nhận xét về âm nhạc của Final Fantasy VI, có nhiều ý kiến, nhưng riêng phần tôi nhận xét, âm nhạc của game khá hay, dù cho tôi không thích bằng Final Fantasy IV. Bạn có thể lắng nghe những đoạn nhạc hùng hồn ở đây - những bản nhạc đặc trưng của Nobuo và đây là bước chuyển tiếp cho Final Fantasy VII, một thời kỳ hoàng kim của ông. Toàn bộ game có lẽ cũng như hầu hết phiên bản trước đó, bạn không biết đâu là nhạc chính, nhưng một giai điệu rất quen thuộc khi chơi chính là giai điệu khi kết thúc game: bài ca do Celes thể hiện trong game.
Final Recommendation
Một game đỉnh cao của Square vào thời kỳ này, được đánh giá là một trong những phiên bản hay nhất của Final Fantasy. Những người đến với Final Fantasy đều rất ấn tượng khi chơi game này, không chỉ bởi độ khó của quest hay các nhiệm vụ chính là vì sao? Câu trả lời giống như khi bạn chơi Final Fantasy VIII hay IX…
PS: Thank you for reading!!!! Không biết viết xong mấy phiên bản tiếp thì đi về đâu ? Cũng may là mấy cái này tuy dài nhưng dễ viết.
To Duca: Cũng ko còn dài đâu, chỉ vài phiên bản nữa thôi, cái chính đây là những game đã chơi nên cũng giống như viết văn trong đầu vậy
Final Fantasy VII
Title: Final Fantasy VII
Platforms: PlayStation 1
Japan – 31/01/1997
United States – 31/08/1997
Title: Final Fantasy VII International
Platforms: PlayStation 1
Japan – 02/10/1997
Title: Final Fantasy VII
Platforms: PC
United States – 31/05/1998
The History
Final Fantasy VII là một bước ngoặt trên nhiều phương diện. Được phát hành với sự quảng cáo và phô trương ầm ĩ, trên cả các phương tiện truyền thông lúc đó, thậm chí là cả bến xe buýt ở những khu vực trung tâm. Giá của sản phẩm đã vượt qua tất cả những phiên bản trước đây. Final Fantasy VII còn là game giúp Sony chiến thắng Nintendo trong cuộc chiến giành thị phần máy chơi game. Final Fantasy VII xuất hiện hàng tháng trời qua phương tiện thông tin như là một game chỉ dành cho thế hệ máy chơi game mới là PlayStation và giúp nó chiến thắng hệ máy chơi game mới của Nintendo là Nintendo 64. Nintendo đã bị giáng một đòn chí tử và chịu nhường lại thị trường cho Sony và PlayStation đã trở thành sự lựa chọn số một cho những người chơi game hồi đó.
Ngay sau đó, Square lại tung ra một chiến dịch quảng cáo lớn nhất từ trước tới giờ cho Final Fantasy VII tại Mỹ. Và kết quả là Final Fantasy VII đã bán được hàng triệu bản ở thị trường trong nước và tính đến nay bán được 6 triệu bản trên toàn thế giới. Final Fantasy đã có một bước ngoặt rõ rệt từ đây với một cột mốc lớn trong toàn loạt game, Final Fantasy VII.
Sau đó Eidos đã lên kế hoạch phát hành bản dịch cho máy PC.Về cơ bản nó giống với phiên bản trên máy PlayStation. Tuy không thành công như phiên bản PlayStation nhưng nó cũng giúp cho dân chơi game PC thỏa được mong ước dù cho việc chơi được phiên bản PC này vào thời đó chỉ có thể đối với những máy tính đỉnh cao.
The Story
2000 năm trước
Jenova được mệnh danh là "calamity of the skies" hạ cánh xuống trái đất, vào vùng phía bắc. Người centra sinh sống ở knowlespole đã tìm thấy nó. Jenova đã giả dạng làm người centra, hứa hẹn hòa bình, nhưng sau đó truyền cho người centra một loại virus làm biến dạng và hủy diệt họ. Tiếp đó Jenova băng ngang địa cầu và tiêu diệt hết bộ tộc centra còn lại.
Cú đáp của Jenova gây ra một vết thương khổng lồ và dòng lifestream tụ tập lại nơi được biết đến với tên gọi The Great North Cave để chữa thương. Năm con Weapons khổng lồ đã được sinh ra bởi hành tinh để tiêu diệt Jenova: Sapphire, Diamond, Ultimate, Emerald, Ruby, nhưng trước khi chúng kịp làm điều này thì một số người centra còn sống sót đã tự đánh bại được Jenova (lúc này đã có dạng nữ) và khóa nó lại trong một tảng đá.
Các Weapons chìm vào trạng thái ngủ đông, còn một số người centra sống sót ít ỏi đồng hóa với nhân loại.
Sau 2000
Loài người tiến bộ dần. Trung tâm văn hóa, thương mại, chính trị tập trung về một thành phố lớn duy nhất, đó là Midgar. Thành phố phát triển theo năm tháng cho đến khi một tổ chức kĩ thuật mang tên Shinra khám phá ra cách hút lấy năng lượng sống Mako từ dòng lifestream. Mako được dùng bởi mọi người và là nguồn gốc của materia, tuy nhiên Shinra lại tao ra những giàn lọc khổng lồ để hút cạn nguồn năng lượng này. Chính đây là nguyên nhân khiến Midgar trở thành một thành phố to lớn và thịnh vượng, song song, Shinra cũng chiếm lấy quyền tự trị, xây dựng quân đội và những lực lượng tình báo để duy trì quyền lực.
Để duy trì hình tượng dân chủ, một thị trưởng bù nhìn đã được bầu lên. Shinra cũng xây dựng một đội tinh nhuệ mang tên SOLDIER, nơi mà những thành viên đều được tiếp xúc với năng lượng mako để nâng cao năng lực và TURKS, tổ chức của những bóng ma sát thủ nhằm thực hiện những ý đồ thống trị của mình một cách ít lộ liễu hơn.
Trong 50 năm tồn tại của mình, Midgar có hai giai cấp: giàu có xa xỉ và đầy quyền lực sống trong tầng trên kiến trúc, nghèo khổ và bị bóc lột sống trong tầng dưới của thành phố và giữa hai phe đã có một cuộc đấu tranh quyết liệt.
57 năm trước
Vincent Valentine chào đời. Hai mươi năm sau anh ta gia nhập Turks.
48 năm trước
Nanaki (Red XIII) chào đời ở Cosmo Canyon. Cậu ta là một trong số còn sống sót của chủng loại mình. Vào thời điểm này, Cosmo Canyon kiểm soát bởi một bộ tộc dữ tợn là Gi. Mẹ của Nanaki đã chết, Seto, cha của Nanaki chiến đấu chống lại kẻ thù đã bị hóa đá. Nanaki không biết chuyện này và cậu ta đã tưởng cha mình hèn nhát bỏ trốn khỏi thung lũng như một kẻ hèn nhát.
Chủng tộc của Nanaki sống rất lâu và có quan hệ với người cổ đại, điều này giải thích tại sao sau này Hojo lại rất có hứng thú với Nanaki. 33 năm trước
Barret chào đời tại North Corel, Corel thời điểm này là một thành phố trù phú dựa trên nền công nghiệp khai thác than. Vào lúc này than vẫn là nguồn nguyên liệu chính ở những khu vực ngoài Midgar.
32 năm trước
Cid Highwind chào đời.
31 năm trước
Giáo sư Gast trong khi tiến hành công tác khảo cổ tại Nibel Mountains đã phát hiện hóa thạch của Jenova . Ông ta mang Jenova về Nibelheim, tại đây ông nghiên cứu nguồn gốc và sức mạnh của mụ. Vào lúc này giáo sư tin rằng Jenova là một người centra. Shinra rất quan tâm đến công trình của giáo sư và đã cung cấp phương tiện, tiền bạc để ông nghiên cứu. 30 năm trước
Kế hoạch Jenova được tiến hành. Mục đích của Shinra là tạo ra những người có sức mạnh của người cổ đại. Tuy không rõ việc giáo sư có biết chuyện này không nhưng phụ tá của ông ta, Hojo, nhà khoa học gửi đến bởi Shinra thì chắc chắn hiểu điều này .
Hojo và Gast đã tiến hành những thí nghiệm về Jenova trong tầng hầm của tòa nhà lớn Nibelheim. Một nữ khoa học gia trẻ tuổi tên Lucrecia và một nhân vật của Turks tên là Vincent (được gửi tới để quản lý tình hình) cũng có mặt tại đây.
Trong thời gian tiến hành thí nghiệm, Vincent đã yêu Lucrecia. Tuy nhiên, cô ta yêu Hojo và đã từ chối lời cầu hôn của Vincent, Lucrecia đã có mang với Hojo. Hojo, thất bại trong việc sử dụng những người trưởng thành trong thí nghiệm của mình, quyết định sử dụng đứa con chưa sinh ra đời của mình (đáng sợ thay cho Hojo). Hắn tiêm tế bào của Jenova cho Lucrecia và đứa bé. Lucrecia trở bệnh và sau khi sinh đứa trẻ thì không thể hồi phục được nữa.
Vincent vô cùng căm giận Hojo nhưng lại bị Hojo vô hiệu hóa và biến thành vật thì nghiệm, một thứ nửa quái vật giống như trong các ống tại nhà máy Mako.
Hojo sau đó khóa Jenova lại tại nhà máy Mako, mang đứa trẻ hoàn hảo của mình về Midgar, nơi đủ điều kiện để nuôi và quan sát. Đứa bé được đặt tên là Sephiroth và nó không bao giờ được nói cho biết cha mẹ của nó là ai.
Vào một thời điểm nào đó, giáo sư Gast rời khỏi cuộc thí nghiệm, đó là lúc Hojo bắt đầu chuyển sang thí nghiệm trên con người. Nhận ra rằng ông ta không thể ngăn chặn được kế hoạch, Gast quyết định bỏ đi trước khi Shinra cho rằng ông ta không còn hữu dụng nữa.
Vincent tỉnh dậy khi cả Hojo và Lucrecia đều đã ra đi, thí nghiệm không còn nữa. Đau khổ, anh ta tự khóa mình trong chiếc quan tài suốt 30 sắp tới. Lucrecia, nhận được sức mạnh từ tế bào của Jenova đã ẩn mình tại Waterfall Cave.
28-24 năm trước
Giáo sư Gast du lịch trên thế giới, tìm kiếm thêm những manh mối của người centra. Ông viếng thăm Bugenhagen tại Cosmo Canyon trong cuộc hành trình và tặng một số thiết bị nghiên cứu. Sau đó, ông gặp Ifalna, một trong những người centra cuối cùng trên trái đất. Họ yêu nhau và sống tại Icicle Inn tại lục địa phía bắc. Gast chưa hoàn toàn rời khỏi Shinra nhưng ông ta không thông báo mình đang ở đâu.
22 năm trước
Ifalna sinh ra Aeris. Ngay sau đó, Hojo tìm được Gast, hắn cố bắt Ifalna và Aeris để làm thì nghiệm, giáo sư Gast chống lại và ông ta đã bị giết. 21 năm trước
Cloud chào đời tại Nibelheim, lớn lên trong cô độc và luôn chống chọi với sự bất tài của mình, mong muốn được trở thành người hùng trong mơ ước. 20 năm trước
Tifa chào đời tại Nibelheim. Năng động và hướng ngoại, cô có rất nhiều bạn bè. Dù cùng tuổi nhưng sự khác biệt khiến Cloud và Tifa không có nhiều thời gian bên nhau trong thời thơ ấu.
Khoảng 16 năm trước
Shinra xâm chiếm Wutai, một quốc gia nước ngoài. Niềm kiêu hãnh mạnh mẽ của Godo khiến ông cố đưa Wutai thoát khỏi sự kiểm soát của Shinra, tuy nhiên lực lượng của họ nhanh chóng bị nghiền nát và Wutai trở thành một thành phố du lịch để có thể tồn tại.
Vào thời điểm này Ifalna trốn thoát khỏi tổng hành dinh Shinra cùng Aeris và đã đến được Sector 7. Tại đây, quá kiệt sức, cô giao Aeris cho bà Elmyra Gainsborough . Ngay từ lần gặp đầu tiên Aeris đã tiên đoán trước được cái chết của chồng bà Elmyra.
Elmyra nhận nuôi Aeris. Aeris lớn lên với khả năng tiên đoán và lòng yêu thiên nhiên. Cô giữ một mảnh Materia nhỏ thừa kế từ người mẹ, đây thực ra là Materia để Summon "Holy", tuy nhiên Aeris không nhận biết được sức mạnh của nó. Khi cô trưởng thành, Tseng, người đứng đầu Turks phát hiện ra cô, hắn muốn bắt Aeris trở lại tổng hành dinh, nhưng Aeris đều trốn thoát được.
Sephiroth chứng minh được năng lực huyền thoại của mình và trở thành công cụ hữu hiệu nhất của Shinra. Những biểu hiện trong chiến đấu của anh ta khiến anh ược gia nhập SOLDIER ngay ở tuổi thiếu niên.
Trong cuộc chiến, Shinra vẫn tiếp tục nghiên cứu quân sự và vũ trụ. Một phi công trẻ giàu kinh nghiêm tên Cid đã được chỉ định làm phi công cho cuộc phóng tên lửa đầu tiên. Cid đã thể hiện khả năng của mình với chiếc Tiny Bronco và Highwind . Tuy nhiên, giấc mơ của anh ta tan vỡ do một sự cố kĩ thuật. Sau cuộc chiến với Wutai, Shinra cho rằng lợi nhuận đến từ Mako lớn hơn nhiều so với khám phá vũ trụ và chương trình của Cid chìm vào quên lãng.
16 năm trước
Yuffie chào đời tại Wutai.
12 năm trước
Mẹ Tifa mất, cô bé Tifa trong lúc buồn bã vô vọng tưởng rằng mẹ đã đi lên Nibelheim Mountains nên đã đuổi theo. Cloud chạy theo bảo vệ nhưng tifa vẫn bị ngã và bị thương. Cha của Tifa đến và la mắng Cloud vì để Tifa đi hoang, Cloud, giận dữ vì bị hiểu lầm và thất bại trong việc cứu Tifa, quyết định sẽ có một ngày cậu ta trở nên mạnh mẽ hơn cả Sephiroth vĩ đại, đợi ngay khi đủ tuổi cậu ta sẽ gia nhập quân đội.
Sau khi Tifa hồi phục, Cloud và Tifa trở nên gần gũi hơn, Cloud kể cho Tifa biết về giấc mơ của mình và họ có một lời hứa. Cùng thời điểm này Tifa đã theo học Zagan và hoàn thiện kĩ năng cận chiến.
9 năm trước
Zack rời khỏi nhà ở Gongaga và gia nhập Soldier, anh ta thăng tiến mau và được chỉ huy dưới quyền của Sephiroth
7 năm trước
Tại nhà ga Midgar, Zack gặp gỡ và hẹn hò với Aeris. Anh ta đã gửi thư cho ba mẹ về "cô ấy" trong khoảng thời gian này.
Cloud rời khỏi Nibelheim, nhưng thất bại trong việc đăng kí vào Soldier. Cậu ta chỉ có thể trở thành một cảnh vệ thông thường của Shinra, xấu hổ vì lại thất bại, Cloud đã cắt đứt liên lạc với quê hương và bạn bè của mình.
5 năm trước
Báo cáo có quái vật quấy nhiễu khu Mako Reactor tại Nibelheim khiến Cloud , Zack và Sephiroth được cử đến. Trong suốt thời gian ở đây, Cloud đã giấu đi thân phận thật của mình, cậu ta không muốn bị nhận ra dưới lớp đồng phục bình thường của cận vệ.
Tifa hướng dẫn đoàn người đến Mako Reator, cô và Cloud chờ ở ngoài, bên trong, Sephiroth tìm thấy thân thể của Jenova và những kết quả thí nghiệm thất bại của Hojo. Anh ta bắt đầu nhận ra sự tương đồng với nguồn gốc của mình và trở nên tức giận. Zack không dám tin vào mắt mình, nhưng khi một xác người biến dạng rơi ra khỏi bồn thì bắt đầu lo lắng. Nhóm quay trở về tòa nhà Nibelheim.
Sephiroth tìm thấy tất cả các ghi chép về kế hoạch jenova trong tầng hầm, biết được người khởi sự công trình là Gast nhưng không nắm được ông đã chết và sự ảnh hưởng của Hojo với sự tạo thành của bản thân. Đêm đã khuya, Zack đến nói chuyện với Sephiroth và phát hiện mình đã gặp một con người khác. Sephiroth tin rằng mình là hậu duệ của người centra và tất cả những người trên trái đất này là những kẻ phản bội đã đẩy dân tộc mình vào con đường diệt vong, sau đó, nhanh chóng bỏ đi gặp Jenova, người mà anh ta cho là "mẹ" mình.
Zack theo ra ngoài và thấy cảnh làng đang bốc cháy dữ dội, một người lính Shinra (Cloud) đang quì bên xác mẹ của mình. Sephiroth đi thẳng đến Reactor với một số người đang điên cuồng đuổi theo. Tifa và Zack đi theo sau, cuối cùng là Cloud
Tại reactor, Tifa phát hiện xác của cha mình, Sephiroth đã giết ông ta. Ngay khi Sephiroth đi thẳng đến bồn chứa Jenova, Zack tấn công nhưng bị đánh văng đi, Tifa nhặt thanh kiếm Sephiroth bỏ lại định đánh Sephiroth, nhưng hắn nhanh chóng giật lại thanh kiếm ….. slash ….. chém Tifa. Cloud chạy tới và vừa kịp chứng kiến cảnh này, anh nhẹ nhàng đặt Tifa ra chỗ an toàn trước khi đối mặt với Sephiroth.
Bên trong, Sephiroth cố mở dây nhợ cứu Jenova, miệng vẫn huênh hoang về sự trở về của chủng tộc vĩ đại, Cloud tiến đến đằng sau và đâm Sephiroth, sau đó quay lai cứu chữa cho Tifa. Sephiroth bị thương, vì vậy chỉ có thể lấy theo cái đầu của Jenova, hắn rời khỏi bồn, đi ngang qua Cloud. Cloud đuổi theo và hai người dừng lại trên chiếc cầu, bên dưới là dòng năng lượng Mako đang chảy xiết. Sephiroth đâm Cloud xuyên qua ngực, nhưng Cloud tóm lấy thanh kiếm và quẳng cả Sephiroth lẫn Jenova vào dòng chảy Mako, sau đó, Cloud ngất đi!
Số phận của các nhân vật:
Zagan, thầy của Tifa đến Reactor và mang Tifa về Midgar, khi tỉnh lại Tifa đã mở một quán rượu tên là "Seventh heaven".
Cloud , Zack và những người sống sót tại Nibelheim đã bị Hojo đem làm vật thí nghiệm để tạo ra một Sephiroth thứ hai.
Sephiroth trôi nổi trong dòng lifestream cho đến khi kết thúc tại the North Cave. Dựa trên năng lực của người cổ đại và năng lượng nguyên thủy của hành tinh, hắn bắt đầu kế hoạch tái tạo mình thành "thần". Một trong những bước đó là summon thiên thạch khổng lồ phá hoại trái đất khiến mako tụ tập vào một chỗ để chữa thương, để hắn lợi dụng hút lấy nguồn năng lượng này. Trong 5 năm kế tiếp, Sephiroth nghiên cứu việc tạo thành những bóng ma của mình từ xa để phá hoại, thân thể thực sự của hắn vẫn tồn tại ở North Cave trong suốt thời gian của game.
Shinra che dấu sự kiện Nibelheim bằng cách bù lại dân số của làng bằng nhân viên của mình. Những thí nghiệm kết thúc, nhưng xác của Jenova, trừ cái đầu, được mang trở lại Midgar để đảm bảo an toàn. Ngay khi kế hoạch thay thế thất bại, Hojo có quay trở về đây để thực hiện tiếp thí nghiệm, trong thời gian này hắn bắt được Nanaki và dùng cho công việc dơ bẩn của mình.
4 năm trước cho đến thời điểm hiện tại
Shinra thuyết phục những người thợ mỏ Corel bỏ việc để xây dựng một nhà máy Mako tại đây, Barret, thấy trước ngành than không có tương lai, ủng hộ kế hoạch. Người bạn tốt nhất của Barret là Dyne chống lại điều này, tuy nhiên, Barret vẫn thuyết phục được anh ta. Một ngày, trên đường trở về Corel, Barret và Dyne phát hiện ra Shinra đã đốt cháy thành phố. Họ khám phá ra rằng Shinra đã vu khống những người thợ mỏ gây ra một số vụ nổ tại khu Reactor. Turks đuổi bắt họ, Barret và Dyne bị thương trong khi chạy trốn, Dyne ngã xuống vực, vì vậy Barret tin rằng bạn mình đã chết. Khi quay về Corel, Barret tìm thấy xác người vợ Myrna của mình, vợ của Dyne Eleanor cũng chết nhưng con gái là Marlene thì không. Anh ta quyết đinh mang Marlene bỏ trốn và đã đến Midgar.
Barret thay thế cánh tay bị thương của mình bằng một khẩu súng tay, cùng thơi điểm, ông nghe được tin có một người cũng bị thương giống mình, nghi ngờ bạn vẫn còn sống, Barret cố tìm nhưng thất bại. Dyne ở lại thành phố, sa mạc xâm thực và bên trên nó, một khu tổ hợp vui chơi giải trí không lồ được dựng nên – Gold Saucer, Corel trở thành tầng hầm của GS, trí óc của Dyne trở nên bất bình thường, ngay cả trùm của Corel cũng rất sợ hãi Dyne.
Cùng lúc đó , một số người còn sống sót của thành phố di chuyển lên phía bắc chỗ nhà máy Mako (lúc này cũng đã ngưng hoạt động) và ở lại đó. Họ sống gần đường dây cáp lên GS bằng cách bán những vật lưu niệm phế thải cho khách du lịch.
Barret, thề rằng sẽ trả thù Shinra, bắt đầu tổ chức các cuộc tấn công vào các khu Reactor. Ông liên kết với Tifa (cũng căm giận Shinra không kém) và dùng tầng hầm quán bar của cô làm trung tâm điều khiển hoạt động của nhóm khủng bố bảo vệ môi trường AVALANCHE.
Vào một thời điểm gần với hiện tại, Zack và Cloud trốn thoát khỏi tòa nhà Shinra Masion. Cloud lúc này đã được tiếp xúc với năng lượng Mako và gần như mất trí, Zack cùng cậu ta mặc đồng phục Shinra để đánh lạc hướng những kẻ truy đuổi. Trên đường Zack đã kể cho Cloud nghe về tất cả cuộc đời của anh ta và cuộc chiến với Sephiroth trong nhà máy Mako. Cloud quá bối rối và hỗn loạn nên không thể trả lời, chính Zack đã lo cho cậu ta.
Shinra đuổi theo và giết được Zack, Cloud được tha vì coi như không còn có thể trở thành mối đe dọa cho Shinra. Tuy nhiên, Cloud đã cầm kiếm của Zack, vượt qua đường hầm Sector 7 và đến được bến tàu, nơi Tifa tìm thấy cậu ta (lúc này vẫn chưa hoàn toàn tỉnh táo). Khi trở nên khá hơn, Cloud đã hòa lẫn ký ức về Zack và của bản thân để trở thành một phiên bản của mình, về sau Sephiroth đã lợi dụng điều này để khống chế hoàn toàn Cloud.
Với trí nhớ của Zack như một lính đánh thuê chuyên nghiệp, Cloud đã quyết định giúp đỡ Avalanche và câu chuyện bắt đầu....
The Heroes
Cloud Strife
Job: Mercenary (ex-member of SOLDIER)
Age: 21
Weapon: Sword
Height: 173 cm
Birth Date: August 19
Birth Place: Nibelheim
Blood Type: AB
Nhân vật chính của Final Fantasy VII là kiểu mẫu nhân vật dũng cảm và kiên cường. Không còn là những hiệp sỹ hay những con người đại diện cho cái thiện nhận một sức mạnh linh thiêng nào đó như các phiên bản trước đây, Cloud hiện lên như một người bình thường và lạnh lùng. Có ước mơ hồi nhỏ mai sau sẽ trở thành một người như Sephiroth, Cloud luôn mong muốn mình trở nên mạnh mẽ. Cloud đi lính nhưng với chức vụ cảnh vệ thông thường. Sau một sự kiện khó hiểu từ năm năm về trước, Cloud trở thành một con người không có trí nhớ và biến thành một tên lính đánh thuê. Trong suốt quá trình chơi là những câu chuyện liên tục xoay quanh những sự việc của năm năm về trước với những mối liên quan tới thời điểm hiện tại, và đó là những móc nối để giải đáp toàn bộ thân thế của Cloud. Đây là một trong những phần hay nhất của cốt truyện Final Fantasy VII.
Barret Wallace
Job: Leader of AVALANCHE
Age: 35
Weapon: Gun-arm
Height: 197 cm
Birth Date: December 15
Birth Place: Corel Village
Blood Type: O
Đứng đầu nhóm người phản động chống chính phủ, AVALANCHE, phản đối việc Shinra, những kẻ nắm độc quyền nguồn năng lượng Mako xây những lò hạt nhân hút những năng lượng độc quyền đó. Với mối thù khi Barret cho rằng chính Shinra phải chịu trách nhiệm về cái chết của người vợ thân yêu khi chúng biến cả thị trấn Corel trở thành đống đổ nát. Có một mối quan hệ khởi đầu không tốt lắm với Cloud nhưng sau đó Barret luôn là thành viên rất đắc lực của nhóm. Với sức mạnh của mình và những khả năng ra đòn cực mạnh cũng như hỗ trợ cho nhóm, Barret xứng đáng đứng trong đội hình bên cạnh Cloud.
Tifa Lockheart
Job: Bar Hostess, AVALANCE member
Age: 20
Weapon: Glove
Height: 167 cm
Birth Date: May 3
Birth Place: Nibelheim
Blood Type: B
Là người bạn thời thơ ấu của Cloud, Tifa là người đã thuyết phục Cloud khi Cloud lờ đi sự giận dữ của Barret mà lạnh lùng bỏ đi. Đây là một cô gái tình cảm và rất tế nhị, điều đó thể hiện qua những hành động của cô mà bất kỳ một fan của Final Fantasy VII nào cũng đều chứng kiến. Từng lời nói, việc làm đều thấm được những tình cảm chân thành với Cloud, nhất là cuối dissc 2. Vũ khí Tifa sử dụng là đôi găng tay “đấm bốc”. Một điều tương đối lạ là trong các phiên bản trước đó, công việc tấn công đối thủ bằng hai tay được gọi là Monk hay Karate Master và thường giành cho giới nam. Không hiểu sao Final Fantasy VII lại ưu ái cho Tifa nhận chức vụ này…
Aeris Gainsborough
Job: Flower Merchant
Age: 22
Weapon: Rod
Height: 163 cm
Birth Date: February 7
Birth Place: Unknown
Blood Type: O
Aeris là một vệt sáng trong bóng tối và sương mù ở Midgar. Chứa trong mình những bí ẩn xung quanh toàn bộ cốt truyện: mảnh đất Hứa, viên White Materia… Aeris có thể coi là nhân vật có số phận bi kịch nhất trong loạt game Final Fantasy. Dưới lưỡi gươm của Sephiroth, cái chết của Aeris gây rất nhiều xúc động cho người chơi và lần đầu tiên tình yêu bắt đầu đóng góp phần nào ít nhiều trong quá trình chơi. Chính cái chết của Aeris là một phần động lực cho quá trình chiến đấu của Cloud. Cũng như rất nhiều nhân vật nữ chính khác, Aeris có thể coi là một White Mage với những tuyệt chiêu Limit Breaks có khả năng hỗ trợ và tăng sức mạnh cho đồng đội.
Red XIII (Nanaki)
Job: Research Specimen
Age: 48
Weapon: Headdress
Height: 120 cm
Birth Date: Unknown
Birth Place: Cosmo Canyon
Blood Type: Unknown
Là một nhân vật kì lạ, Red XIII có ngọai hình giống như một con cọp với một cái đuôi có ánh lửa. Red nhìn trông rất dữ tợn với khuôn mặt và có một hình xăm chữ “XIII” trên chân trước bên trái. Cha và mẹ của Red XIII là những người đã chết trong cuộc chiến của họ với bộ tộc GI. Nhưng Red XIII không hề biết chuyện này, nên anh ta tưởng cha mình - Seto đã bỏ chạy khi bị tấn công và để lại mẹ anh ta cho tới chết. Cách đây 5 năm, Red XIII bị một nhà bác học là Hojo đem về để thực hiện công trình tạo ra những sinh vật với khả năng huyền bí và đặt cho anh ta kí hiệu XIII. Tại đây, Red XIII đã gặp được nhóm Cloud. Và một cảnh trong game khiến người chơi vô cùng cảm động khi Red XIII nhận ra sự vĩ đại của người cha Seto ngày nào, một con người lừng lững hiên ngang trên đầu ngọn núi đỡ hàng trăm mũi tên để bảo vệ bộ tộc, và một giọt nước mắt lăn xuống, từ người cha đã mất… Chính từ đó, Red XIII đã cùng bước trong hành trình với Cloud.
Yuffie Kisaragi
Job: Materia Hunter, Ninja
Age: 16
Weapon: Knife, boomerang, and origami
Height: 160 cm
Birth Date: November 20
Birth Place: Wutai
Blood Type: A
Được sinh ra trong một gia đình gia giáo, với những truyền thống và đạo luật rất khắt khe, ngay từ khi còn nhỏ Yuffie đã được đào tạo để trở thành một Ninja hoàn hảo. Với thân hình nhanh nhẹn, nhỏ bé nhưng Yuffie đã sớm bộc lộ được thiên khiếu của mình. Một cuộc chiến tranh xảy ra khi Shinra xâm chiếm vùng đất Wutai với đội quân và lực lượng trang bị vũ khí hiện đại và những viên materia lấy từ nguồn năng lượng mà shinra hút từ life stream. Godo đã chống trả nhưng đành thất thủ, với mong muốn săn tìm những viên Materia Yuffie đã thực hiện một cuộc phiêu lưu ra thế giới bên ngoài. Và cũng từ đó, Yuffie đã tình cờ gặp được Cloud và nhóm bạn của anh ta. Với quá trình trau dồi qua nhiều trận đánh, Yuffie đã vượt qua được cuộc kiểm tra do Godo đề ra để thử tài Ninja. Yuffie là nhân vật có khả năng rất đặc biệt như bất kỳ những Ninja nào khác, với Ultimate Weapon, Yuffie có khả năng đặc biệt như Morph hay gây Damage lớn lên Ruby Weapon… Đây là mẫu nhân vật không nên thiếu và cũng rất nhộn ^_^.
Cait Sith
Job: Toysaurus
Age: Unknown
Weapon: Megaphone
Height: 100 cm
Birth Date: Unknown
Birth Place: Unknown
Blood Type: Unknown
Cait Sith cưỡi trên lưng một con Mog khổng lồ (gọi là thế chứ chưa hẳn là Mog), nhưng thực chất Cait Sith lại chỉ là một thứ đồ chơi do Reeve điều khiển. Tiếp cận với Cloud khi anh ta cùng nhóm bạn đến Gold Saucer, chính Cait Sith là người lấy cắp chiếc Key Stone để đi tới Temple of Ancient. Nhưng về sau lại giúp Cloud tiêu diệt khẩu pháo khổng lồ cùng tham vọng của Hojo. Nói về Cait Sith, bạn có thể không thích sử dụng nhân vật này, khả năng cùng các chỉ số ở mức trung bình trong khi Limit không có gì nổi trội, nếu không muốn nói rất dễ die nếu như không may.
Vincent Valentine
Job: Unemployed
Age: 57
Weapon: Gun
Height: 184 cm
Birth Date: October 13
Birth Place: Unknown
Blood Type: A
Một người đàn ông bí ẩn, lạnh lùng và chính trực với một quá khứ gắn liền với Shinra. Từng là thành viên trong nhóm Turks, Vincent được cử đến giám sát cuộc thí nghiệm của ba mươi năm về trước của Shinra. Nhưng không may dưới những ước muốn điên rồ của tên bác học Hojo, Vincent không những bị mất người yêu dấu Lucrecia mà còn trở thành một vật thí nghiệm của Hojo. Điều đó khiến cho trong Vincent ẩn chứa một sức mạnh khủng khiếp – có khả năng biến thành những quái vật theo ý mình. Ngủ say trong quãng thời gian dài trong chiếc quan tài ở tầng hầm Shinra Mansion, Vincent đi theo Cloud khi biết Cloud có liên quan đến Sephiroth - kẻ là con trai của Hojo và Lucrecia… Đây là lần đầu tiên trong phiên bản của Final Fantasy có sự xuất hiện của súng, một thứ vũ khí thời hiện đại.
Cid Highwind
Job: Pilot
Age: 32
Weapon: Spear
Height: 178 cm
Birth Date: February 22
Birth Place: Unknown
Blood Type: B
Ngay từ khi còn nhỏ, Cid đã có một ước mơ rất vĩ đại là: trở thành con người đầu tiên được bay lên vũ trụ. Với hoài bão ấy, anh đã quyết tâm tìm hiểu và học hỏi, để làm ra một bản thiết kế về cái vật thể sẽ giúp anh thực hiện được ước mơ của mình, đó là một con tàu vũ trụ. Trải qua nhiều năm miệt mài và sử dụng hầu hết thời gian của mình vào công trình nghiên cứu đó, lại được sự giúp đỡ và ủng hộ của một cộng tác viên rất nhiệt tình, người không ai khác là Shera vợ anh. Cid đã hoàn thành được về cơ bản cho con tàu của mình. Tuy nhiên do một sự cố đáng tiếc xảy ra, chuyến bay vào vũ trụ cùng ước mơ của Cid đã tan biến. Sau một thời gian, tuy ý nghĩ về một con tàu vũ trụ đã được nhạt dần. Nhưng Cid vẫn không thể từ bỏ được giấc mơ được bay lên bầu trời của mình. Với khả năng sử dụng chiếc thương một cách thành thạo cùng với những Limit Breaks vô cùng lợi hại của mình, Cid được coi là một trong những thành viên mạnh nhất của nhóm.
The Villains
Sephiroth
Job: Top ranking Soldier officer
Age: Unknown
Weapon: Long Sword
Height: 186 cm
Birth Date: Unknown
Birth Place: Unknown
Blood Type: Unknown
Sephiroth được xem là một nhân vật phản diện có số phận nhất trong loạt game Final Fantasy. Là nhân vật có võ công cao cường tài giỏi, nhưng cách đây năm năm, Sephiroth đã đọc được những tài liệu bí mật ở tầng hầm thư viện Shinra Masion sau khi chứng kiến một sinh vật kỳ dị ở trong những bình chứa ở Nibelheim. Một bí mật được vén lên và đó là lúc Sephiroth bước một bước sang ranh giới tội ác và mọi thứ không thể quay trở lại. Sephiroth đốt làng nhằm xoá đi mọi thứ ở Nibelheim và tìm đến Jenova - người mà Sephiroth cho là mẹ nhưng thực chất chỉ là những tế bào được cấy ghép. Một con quỷ dữ đã chiếm lấy đầu óc Sephiroth. Khi bị Cloud đẩy xuống dưới dòng Life Stream, thân xác Sephiroth đến ngọn núi lửa phía bắc, từ đó, hắn hấp thu năng lượng và với một ảo ảnh đi tìm viên Black Materia có khả năng triệu hồi Meteor… Đó chính là lúc thế giới bị huỷ diệt…
Dường như mọi hành động của Sephiroth khiến người chơi cảm thấy đó là do số phận đã đẩy hắn vào tình thế đó.
Game & Battle System
Nhắc đến Final Fantasy VII là nhắc đến hệ thống Materia - một hệ thống tăng cường sức mạnh được đánh giá là hiệu quả nhất đồng thời là điểm vô cùng thú vị của trò chơi. Nó kết hợp rất nhiều hệ thống của phiên bản trước đó như hệ thống Jobs hay Relic. Đó là điều rất tuyệt với. Các viên Materia có một khả năng riêng vô cùng đặc biệt hơn thế nữa chúng còn có thể kết hợp được với nhau tạo nên những hiệu quả rất lớn. Có nhiều kiểu kết hợp các viên Materia, đó là điều khiến cho Materia là một trong những hệ thống hay nhất Final Fantasy series.
Limit Breaks xuất hiện mạnh mẽ và đầy uy lực, một tuyệt chiêu cực cao của nhân vật có khả năng sát thương cho đối thủ và là điểm cơ bản cho các phiên bản về sau, các nhân vật ko chỉ tấn công hay dùng phép suông nữa, hơn nữa đòn thế của Final Fantasy VII rất đẹp mắt Tăng tính hiệu quả rất cao.
Có nhiều người nói Final Fantasy VII khó tìm đường, độ khó rất cao, điều đó có thể đúng tuy vậy có quy luật là càng về các phiên bản sau việc tìm đường trong game và độ khó của game càng giảm. Nhưng Final Fantasy VII giống như Final Fantasy V - xuất hiện những con trùm phụ mạnh hơn nhiều so với trùm chính. Ruby Weapon và Emerald Weapon xuất hiện thoả chí rất nhiều gamer, hai con quái vật gây không ít khó khăn cho họ.
Final Fantasy VII cũng là phiên bản đánh dấu sự ra đời rực rỡ của Minigame. Vốn xuất hiện rất mờ nhạt ở các phiên bản trước, minigame của Final Fantasy VII có khá nhiều và rất thú vị với những giải thưởng rất có giá trị trong game, nên gây hứng thú cho người chơi khi tham gia nó. Nhiều minigame như Battle 3-D, Basket Ball, Moto Racer hay trong Speed Square hoặc Battle Square. Đặc biệt Chocobo xuất hiện trong minigame như một minigame hay nhất – lai Chocobo. Một trò chơi khá vui và hấp dẫn khi tính năng của Chocobo mở rộng hơn rất nhiều cho các phiên bản trước, người chơi cảm thấy Chocobo gần gũi hơn bao giờ hết…
Uhm, nói tuy dài chứ hầu hết là điều mọi người đều biết, mệt wá..
The Graphics and Music
Được giải phóng khỏi băng cadtridge và cộng thêm số vốn hơn 30 triệu USD, Square đã tạo ra một game có kích thước và phạm vi vượt hẳn so với các phiên bản trước. Đồ hoạ 3D mà các fan gặp lúc bấy giờ quả là một điều tuyệt vời, người chơi có thể khám phá thế giới trong game một cách tường tận và kỹ càng nhất là khi ở bên ngoài thế giới, họ bị choáng ngợp bởi đồ hoạ của Final Fantasy VII – chân thực từ ngọn núi đến đồng cỏ. Tuy vậy điểm yếu của thế giới bên ngoài còn có rất nhiều.
Xuất hiện trong game lần đâu tiên là những Full Motion Video. FMV của Final Fantasy VII thật đáng kinh ngạc và hơn hẳn các game cùng thời. Với ý tưởng của Sakaguchi, Square đã kết hợp FMV vào luôn cảnh chơi tạo cho người chơi cảm giác thú vị, giúp cho game không bị ngắt quãng kô cần thiết đông thời có thể tả thực những đoạn mà đồ hoạ trước giờ không thể làm được.
Kế đến âm nhạc, Final Fantasy VII được coi là nơi tập hợp những giai điệu tuyệt vời nhất của Nobuo, ông có rất nhiều giai điệu bất hủ ở đây. Một giai điệu của bài One Winged Angel bi hùng và hoành tráng như kết thúc cho một câu chuyện của một Sephiroth được làm nhạc nên cho Final Battle. Một đoạn nhạc Cosmo Canyon hay Costa Del Sol. Tuy không có những ca khúc chủ đề như Final Fantasy VIII, IX hay X nhưng bù lại tổng thể Final Fantasy VII được đánh giá rất cao kể từ nhạc trong trận đánh lẫn khi đi làm nhiệm vụ…
Nói nhiều wá, té dzậy
Final Recommendation
Chả cần nói nhiều về cái này, chỉ muốn nói: Ai không chơi, tiếc ráng chịu.
PS: Phần cốt truyện không nói nhiều bởi từ đây, các phiên bản đều là những game được chơi nhiều. Phần trích dẫn là tài liệu chỉnh sửa từ gamevn do một lần làm website tĩnh về FF7. Do làm cho người chưa biết gì đọc nên có phần chưa hoàn thiện.
Final Fantasy VIII
Title: Final Fantasy VIII
Platforms: PlayStation 1
Japan – 11/02/1999
United States – 31/08/1999
Europe – 29/09/2000
Title: Final Fantasy VIII
Platforms: PC
United States – 31/12/1999
The History
Có được sự chuẩn bị trong hơn một năm kể từ Final Fantasy VII, đầu năm 1999, Final Fantasy VIII đã được phát hành. Với sự thể hiện và cách xây dựng những mẫu nhân vật rất công phu, Final Fantasy VIII có thể coi là một game khá hay của Square. Phản ứng của người chơi rất lẫn lộn. Hầu hết trong số họ đều mong chờ một phiên bản thật hay và xuất sắc như Final Fantasy VII - một phiên bản mà cho đến bây giờ vẫn được coi là đứng đầu Final Fantasy series. Chính vì thế, Final Fantasy không có được thành công như người anh trước của nó. Cách chơi mới của Final Fantasy VIII cũng có nhiều phản hồi. Khá nhiều người chấp nhận và thích thú với hệ thống Junction mới, tuy nhiên việc biến mất của những trang bị truyền thống như Armor hay quá trình tìm kiếm vũ khí không còn như các phiên bản trước gây không ít khó khăn. Tuy nhiên, những gì Square đã bỏ công vào phong cách mới, hệ thống mới của Final Fantasy VIII cũng rất đáng nể và tính trong năm 1999 Square cũng bán được hàng triệu bản trong thị trường nội địa.
Sau đó, Square còn cho phát hành bản dịch cho máy PC. Tuy nhiên vào lúc này, bản dịch này còn không được thành công như phiên bản PlayStation, có thể bởi hầu hết những người muốn chơi Final Fantasy VIII hồi đó đều đã lướt qua với phiên bản dành cho PlayStation.
The Story
Squall Leonhart là một học viên của Balamb Garden, một trong những học viện quân sự đứng đầu thế giới. Sau khi hoàn thành tốt một nhiệm vụ, Squall cùng ba học viên khác tốt nghiệp ở học viện Balamb và được vinh dự trở thành một SeeD – là những lính đánh thuê đặc nhiệm. Sau buổi tiệc mừng tốt nghiệp, Squall cùng hai SeeD cùng tham gia trong bài thi tốt nghiệp là Zell và Selphie lên đường thực hiện nhiệm vụ đầu tiên. Họ được Rinoa thuê để giúp đỡ nhóm người nổi loạn bắt cóc Tổng thống Deling của Galbadia - người sắp công bố về một khối liên minh mới sẽ đem lại cho Galbadia danh tiếng và thành công vượt qua mọi đối thủ. Sự liên minh không với bất cứ một quốc gia nào mà lại là một phù thuỷ tài phép là Edea. Từ đây bộ ba Squall, Zell và Selphie bắt đầu chuyến hành trình dài của họ. Sau khi nhiệm vụ không thành công, họ nhận được tin từ Balamb Garden: Ám sát phù thuỷ Edea. Sau những nỗ lực của cả nhóm và nhiều đồng đội mới như Rinoa, Quistis và Irvine nhưng tương quan sức mạnh quá nhiều, họ lại bị đánh bại. Phù thuỷ Edea còn lên kế hoạch tiêu diệt hai học viện đối thủ của Galbadia Garden là Balamb Garden và Trabia Garden - học viện cũ của Selphie. Hai học viện Balamb và Galbadia đã đứng ở hai chiến tuyến khác nhau. Cuộc chiến tưởng chừng đã chấm dứt khi Squall cùng nhóm bạn đã đánh bại được Edea, nhưng đó là lúc những khó khăn mới liên tục xuất hiện, những bí mật được vén lên. Rinoa bị một thế lực nào đó nhập vào, thân thế của Edea, một vùng đất bí ẩn, cùng với lũ quái vật trong vũ trụ, một mụ phù thuỷ Adel bị giam trên không trung đã được giải thoát. Cùng lúc đó là cả nhóm phát hiện ra một phù thuỷ khác – Ultimecia, mụ phù thuỷ đến từ tương lai, kẻ đã điều khiển Edea. Và cuộc đấu tranh chống lại mụ phù thuỷ Ultimecia liệu có thể thắng lợi và nhóm Squall có thể quay trở lại thế giới bình thường hay không ?
The Heroes
Quá trình xây dựng nhân vật trong Final Fantasy VIII rất công phu, việc thiết kế phong cách cho nhân vật rất được chú trọng, nó thể hiện rất nhiều qua hành động lời nói và đi sâu sắc từ xuất thân và biểu cảm nhân vật cho tới trang phục và đầu tóc. Mặt khác các nhân vật có mối quan hệ phát triển rất phức tạp qua quá trình chơi, họ có cảm xúc rất phù hợp như ngoài đời, sống động và có tính cách riêng.
Squall Leonhart
Age: 17
Sex: Male
Height: 177 cm
Birthdate: August 23rd
Blood Type: AB
Weapon: Gunblade
Limit Break: Renzoukuken
Initial Weapon: Revolver
Occupation: SeeD Mercenary (Balamb)
Là nhân vật chính của Final Fantasy VIII nhưng lại mang một dảng vẻ lạnh lùng và ít nói. Dường như cuộc sống của Squall có quá nhiều điều không được hạnh phúc. Mồ côi từ nhỏ và được nuôi nấng và trở thành học viên của Balamb Garden, Squall trở thành một SeeD gắn bó với học viện. Hạnh phúc đến với Squall khi anh bắt gặp ánh mắt của một người con gái, Rinoa, người đã khiến Squall bay mình vào vũ trụ với một khát khao tìm được người mình yêu dấu. Với một dáng vẻ lạnh lùng cùng khuôn mặt điển trai đậm những nét vẽ mê hồn, Squall có thể coi là một trong những nam nhân vật chính được mến mộ nhất, nhất là từ giới nữ. .
Rinoa Heartilly
Age: 17
Sex: Female
Height: 163 cm
Birthdate: March 3rd
Weapon: Blaster Edge
Limit Break: Combine
Initial Weapon: Pinwheel
Occupation: Princess of "The Forest Owls"
Một nhân vật để lại không ít cảm xúc cho người chơi không chỉ bởi tính cách hiền lành dễ thương mà còn bởi vẻ đẹp của Rinoa. Là người từng thuê nhóm SeeeD giúp mình giành lại quyền độc lập cho Timber từ tay Galbadia, Rinoa từng suy nghĩ rất nhiều về hành động của Seifer - người Rinoa từng nghĩ tới rất nhiều – tuy vậy sau này tình cảm của cô đã dành cho một người khác có lời nói lạnh lùng nhưng hành động đã nói lên tất cả, Squall. Rinoa còn là nhân vật đóng vai trò chìa khoá trong đoạn sau của game khi một sự cố đã xảy đến với cô, bị một phù thuỷ nhập vào và điều này tăng phần romantic cho một cốt truyện tuyệt vời của Final Fantasy VIII.
Zell Dincht
Age: 17
Sex: Male
Height: 167cm
Birthdate: March 17th
Blood Type: B
Weapon: Glove
Limit Break: Duel
Initial Weapon: Metal Knuckle
Occupation: SeeD Mercenary (Balamb)
Một trong những SeeeD cùng tốt nghiệp với Squall nhưng khác với bản tính của Squall, Zell rất nóng nảy và ít giữ được bình tĩnh. Vào học viện Balamb khi mới 13 tuổi, Zell được tập và trở thành người tài giỏi với chiếc găng tay và những cú đấm rất mạnh. Anh ta rất có ích cho nhóm bởi khả năng tấn công toàn diện và Limit siêu tuyệt, Zell có lẽ là nhân vật mạnh nhất trong đội hình
Irvine Kinneas
Age: 18
Sex: Male
Height: 185cm
Birthdate: November 24th
Blood Type: O
Weapon: Shotgun
Limit Break: Shot
Initial Weapon: Variant
Occupation: SeeD Mercenary (Galbadia)
Một tay súng thiện xạ của Galbadia Garden, Irvine là nhân vật chính trong nhiệm vụ ám sát phù thuỷ Edea. Vẻ bề ngoài lãng tử và lối nói tán tỉnh Irvine là đồng đội tốt, có chỉ số mức trung bình, limit của Irvine thuộc loại nhanh tay thì tốt nhưng luôn dưới cơ Squall và Zell.
Selphie Tilmitt
Age: 17
Sex: Female
Height: 157cm
Birthdate: July 16th
Blood Type: B
Weapon: Nunchaku
Limit Break: Slots
Initial Weapon: Flail
Occupation: Trabia Cadet - SeeD Mercenary (Balamb)
Học viên cũ của Trabia Garden sau đó chuyển về học ở Balamb Garden, gặp Squall lần đầu khi đụng nhau ở tầng hai học viện Balamb. Cùng nhau tham gia nhiệm vụ trong kỳ tốt nghiệp với Squall, Selphie là nhân vật có Limit khó sử dụng mặc dù có rất nhiều đòn đặc biệt nhưng tỷ lệ ra rất thấp. Đây là mẫu nhân vật giống như Yuffie của Final Fantasy VII.
Quistis Trepe
Age: 18
Sex: Female
Height: 172cm
Birthdate: October 4th
Blood Type: A
Weapon: Whip
Limit Break: Blue Magic
Initial Weapon: Chain Whip
Occupation: Instructor - SeeD Mercenary (Balamb)
Một nhân vật nữ cực kỳ xinh đẹp ^_^ và tài giỏi. Quistis trở thành một SeeD từ khi mới 15 tuổi. Sau đó được giữ trách nhiệm giảng dạy cho học viên của Balamb, Quistis rất đường hoàng và mực thước so với những học viên cùng tuổi. Là nhân vật rất hữu ích bởi Blue Magic rất phong phú đa dạng và tuyệt vời như Degenerator, Shokwave Pulsar, hay Micro Misssiles…
The Villains
Đầu tiên là phù thuỷ Edea. Edea vốn là vợ của Cid Kramer- hiệu trưởng học viện Balamb là một phù thuỷ đáng sợ, tuy nhiên khi finish hai đĩa đầu, nguy cơ mới sẽ đến với nhóm Squall - kẻ thù mới xuất hiện, mụ phù thuỷ từ tương lai, Utimecia.
Đứng giữa hai chiến tuyến đó là Seifer Almasy – kình địch của Squall không chỉ về mặt tài năng chiến đấu khi ở Balamb mà còn nhiều mặt như tài năng cưa cẩm (Rinoa đoá) và tài năng hấp dẫn fan nữ hâm mộ ^_^. Nhưng ý muốn trở nên mạnh mẽ hơn, tài giỏi hơn khiến Seifer luôn đi theo sau lưng cái ác. Đầu tiên là phù thuỷ Edea sau đó là Ultimecia. Cuối cùng người chơi lại thấy được một Seifer hoàn lương với nụ cười tự tin nhưng không ngạo nghễ.
Game & Battle System
Final Fantasy VIII là phiên bản với cách chơi mới. Nền tảng của cách chơi này là Junction - một khả năng kết hợp nhân vật với Guardian Forces (GF). Việc kết hợp này không chỉ khiến nhân vật có thể Summon GF trong trận đấu như phiên bản khác mà khiến nhân vật sử dụng các khả năng đặc biệt của GF và có thể kết hợp với Magic để tăng sức mạnh cho họ. Và hệ thống này tăng sức mạnh lên mức kinh hoàng. Với Level thấp bạn cũng có thể có được chỉ số sức mạnh cực kỳ cao và lượng HP cao chót vót. Điều này khiến nhiều gamer thích thú nhưng phản đối cũng không ít. Hơn thế nữa, trong game không còn khái niệm áo giáp hay kiếm lượm vũ khí. Áo giáp tăng công thủ có thể nhờ Junction. Weapon cũng không còn thật cần thiết, việc đổi vũ khí tiến hành ở bất cứ đâu miên là đủ điều kiện đưa ra là được. --> Rất mâu thuẫn với các phiên bản trước, vũ khí mạnh chỉ có ở giai đoạn cuối.
Khái niệm Level Up vẫn có nhưng không hoàn toàn cần thiết ở Final Fantasy VIII, không chỉ bởi Lv cao không cần thiết mà còn vì Lv quái vật phụ thuộc vào Lv của nhân vật. Việc kiếm tiền cũng khác hơn, số tiền có được dựa theo lương của SeeD mà ít hay nhiều do cấp độ của SeeD. Cũng có thể kiếm dễ hơn nhờ khả năng của GF. Nếu đánh giá đúng mức độ khó của Final Fantasy VIII có thể thấy rõ, đây là phiên bản dễ đi nhất trong series (sorry FF VIII fans)
Ngoài ra minigames Triple Triad Card trở nên rất thú vị, không những là trò chơi trí tuệ mà giúp ích rất nhiều trong game. Cái này có lẽ không cần nói nhiều.
The Graphics and Music
Nếu như Final Fantasy VII mở màn cho những FMV xuất hiện trong những cảnh giữa game thì bước đột phá của nó trong Final Fantasy VIII là điều tuyệt vời, người chơi không mong đợi gì hơn khi ngắm những cảnh phim tuyệt vời như bữa dạ hội ngày nào hay đoạn ending của game. Các nhân vật thiết kế đẹp hơn hẳn Final Fantasy VII không là những chú lùn với cánh tay như một bao cát nữa, nhân vật đẹp và dáng chuẩn như Top Model. Và những thước phim tuyệt vời luôn làm ngây ngất người chơi bởi lẽ đó. Tuy vậy phiên bản dịch cho PC thì chất lượng đồ họa không chú ý kỹ lưỡng nên có một số đổi khác nho nhỏ.
Về âm thanh, nó có lẽ là điểm yếu của Final Fantasy VIII. Không có được thứ âm thanh bùng nổ hay châm ngòi cảm hứng như Final Fantasy IV, V, VI - bộ ba thành công của Nobuo Uematsu. Tuy nhiên Nobuo vẫn có những giai điệu rất hay. Bài hát Eyes on me do Faye Wong thể hiện không chỉ là một trong những ca khúc mà FFF thích nghe nhất mà cũng nhờ nó mà lượng fan của Final Fantasy ngày càng nhiều. Hiệu ứng về âm thanh trong Battle không được đánh giá cao nhưng hiệu ứng trong những đoạn FMV rất ăn khớp và điều đó khiến cho Final Fantasy VIII dường như trở thành một bộ phim romantic.
Final Recommendation
Đây là game Final Fantasy đầu tiên tôi biết tới, nhớ lại những lần tôi ngắm nhìn đồ họa của nó thực sự là tuyệt vời, điều đó gây sốc cực độ. Tuy vậy mãi đến cuối game mới biết đến bài hát Eyes on me <-- Đáng tiếc wá. Tôi thích Final Fantasy VIII và thực sự tuy không khó nhưng nó chứa rất nhiều điều thú vị, đó chính là lý do tại sao nó lại hấp dẫn
Final Fantasy IX
Title: Final Fantasy IX
Platforms: PlayStation 1
Japan – 07/07/2000
United States – 13/11/2000
Europe – 16/02/2001
The History
Ra đời sau Final Fantasy VIII hơn một năm, kế hoạch phát triển Final Fantasy IX đã xây dựng trong quá trình phát triển Final Fantasy VIII. Tuy vậy hai phiên bản này lại mang những phong cách hoàn toàn khác nhau. Trong khi Final Fantasy VIII là một game mang nhiều ý tưởng mới mẻ thì Final Fantasy IX lại được xây dựng theo phong cách cổ điển của loạt game Final Fantasy. Việc này xuất phát từ ý tưởng của Hironobu Sakaguchi khi ông thảo luận với Hiroyuki Ito đưa phiên bản thứ chín của Final Fantasy quay trở lại với cách chơi cũ.
Có người cho rằng Final Fantasy IX được tập trung phần nhiều vào cách chơi và sự thể hiện về cốt truyện và đồ hoạ hơn là có những ý tưởng mới - vốn là đặc trưng cho Final Fantasy series. Tuy nhiên Final Fantasy IX được đánh giá là một game rất hay trên PlayStation. Trong một bài phỏng vấn của Hironobu Sakaguchi khi Final Fantasy IX vừa được phát hành, ông cho biết sản phẩm mình ấn tượng nhất chính là phiên bản mới này. Và Final Fantasy IX gặt hái không ít thành công về cho Square
The Story
Một cách dễ nhận thấy, cốt truyện của Final Fantasy IX mang nhiều tính chất cổ tích huyền thoại. Trong khi những phiên bản trước, Final Fantasy VII và VIII đều có một thế giới hiện đại với máy móc và vũ khí tối tân thì ở phiên bản này, cốt truyện lại quay về những toà lâu đài, những bức tường thành rồi phù thuỷ và những viên Crystal mang năng lượng… Và tính chất sử thi anh hùng cũng được biểu hiện ở đây, những câu chuyện cảm động mang đầy tính nhân văn đời thường chính là cốt lõi của Final Fantasy IX cũng như bất kỳ phiên bản Final Fantasy nào khác.
Câu chuyện bắt đầu ở Lục địa sương mù (Mist Continent) trong vương quốc Alexandria… Một hành trình dài vượt biển, bão tố, và một cô gái đã mở đầu cho một câu chuyện tuyệt vời. Một kế hoạch hoàn hảo bắt cóc cô công chúa Garnet dễ thương của thành Alexandria đang được vạch ra bởi nhóm Tatanlus. Baku - thủ lãnh của băng trộm cướp đã giao việc cho chàng trai nhỏ tuổi Zidane khi đóng một vở diễn “I want to be your canary” nhằm tiếp cận hoàng cung. Nhưng kỳ lạ thay, mục tiêu của họ, công chúa Garnet lại tự nguyện đi theo Zidane vì cô muốn mình bị bắt cóc. Kỳ lạ? Nữ hoàng Brahne lúc đó đã tuyên bố chiến tranh với đất nước láng giềng với đội quân kỳ lạ là những phù thuỷ áo đen. Garnet bỏ trốn khỏi bốn bức tường thành bởi mong muốn có câu trả lời cho thắc mắc của mình. Và từ đây bắt đầu chuyến hành trình của bốn nhân vật kỳ lạ: một cậu nhóc với chiếc đuôi kỳ quái, một binh sỹ giáp sắt đầy mình, một nàng công chúa nhỏ bé và một cậu bé kỳ lạ với chiếc mũ cao và áo choàng dài… Họ gặp gỡ rất nhiều người bạn nữa và rồi khi câu trả lời cho thắc mắc của Garnet được sáng tỏ cũng chính là lúc khó khăn mới xuất hiện, Một kẻ thù mới, người đứng sau lưng Brahne, dùng lời nói và phép thuật khiến Nữ hoàng tin tưởng và dễ dàng bị khống chế phục vụ mưu đồ của hắn. Kuja một con người bí ẩn với sức mạnh và vẻ oai phong trên con rồng bạc xuất hiện với ý định ngông cuồng và tìm kiếm sức mạnh những Eidolon huyền thoại. Kuja đến từ đâu và những hành động của hắn mang theo những mục đích gì ? Và sự xuất hiện của Garland và những sinh vật có đuôi kỳ lạ mang ý nghĩa gì ? Liệu trọng trách nặng nề gánh lên vai Zidane có được hoàn thành ?
Toàn bộ câu chuyện của Final Fantasy IX xoay quanh những câu hỏi đó, và theo cá nhân tôi, tính chất lôi cuốn của cốt truyện rất tuyệt vời mang nhiều bí ẩn của quá khứ và cần nhiều khúc mắc được giải đáp, điều đó hấp dẫn không kém Final Fantasy VII. Cốt truyện mang tính trung gian giữa các phiên bản cổ điển và bây giờ, những viên Crystal mang năng lượng vẫn xuất hiện nhưng vai trò không còn trọng tâm như trước. Quá khứ của nhân vật chính cũng rất hấp dẫn nó gắn liên với chính bản thân cốt truyện chứ không rời rạc như Final Fantasy VIII
The Heroes
Zidane Tribal
Age: 16
Occupation: Kẻ trộm
Sex: Nam
Weapon: Dao găm của kẻ trộm và kiếm của các bọn cướp
Special Skill: Steal, Skill
Trance: Dyne - Giải phóng năng lượng (thực hiện 8 chiêu thức của chiến binh Terra)
Chủng loại: Người của thế giới Terra
Câu nói yêu thích: "Liệu bạn có cần một lí do để giúp đỡ ai đó không?"
Nhân vật chính của Final Fantasy IX, một người trẻ tuổi, dễ thương và luôn lạc quan, yêu đời trước mọi thử thách dù điều đó có khó khăn đến đâu đi chăng nữa. Bắt đầu của trò chơi, Zidane chỉ có 16 tuổi và không nhớ gì về quá khứ, bạn sẽ khám phá được thân thế của anh ta cùng nhiều bí mật khác song song với sự trưởng thành của anh ta. Bạn có nhìn thấy cái đuôi lạ lùng của anh ta không? Bởi anh ta là một Gemone được Garland tạo ra với mong muốn trở thành một Chiến binh tiên phong cho mục đích phá huỷ năng lượng sống của Gaia của Garland. Trước đó cũng có một Gemone khác được tạo ra, chiến binh Kuja với năng lượng cực kỳ mạnh mẽ song muốn thoát khỏi sự kiểm soát của Garland. Tuy nhiên có sự cố xảy ra khi Zidane được gửi tới Gaia, điều đó cướp đi trí nhớ của Zidane và những dữ liệu Garland cài vào Zidane trở nên vô dụng, Zidane sẽ không trở thành một thần huỷ diệt. Sau đó, Zidane được sự đùm bọc bởi băng trộm cướp giang hồ. Với cơ thể của một chiến binh ưu tú, Zidane là thành viên rất giỏi trong nhóm Tatanlus và được thủ lãnh Baku rất quý.
Zidane là nhân vật khá đặc biệt bởi anh ta là người duy nhất có khả năng Steal mang lại rất nhiều đồ quý hiếm trong trò chơi, đồng thời kỹ năng Trance rất lợi hại khi có sự hỗ trợ của nhiều vũ khí mới. Mặt khác một tuyệt chiêu Thiefvery có damage phụ thuộc số lần Steal cực kỳ lợi hại và có ích. Tuy nhiên Zidane trong game thực sự không có nhiều nhiệm vụ ngoài việc đứng … Steal.
Garnet Til Alexandros XVII (Dagger)
Age: 17
Occupation: Công chúa thành Alexandria
Sex: Nữ
Weapon: Gậy pháp sư và các vợt năng lượng
Special Skill: White Magic, Summon
Trance: Eidolion - Summon liên tục trong thời gian Trance
Chủng loại: Người của thế giới Gaia
Câu nói yêu thích: "Một ngày nào đó tôi sẽ là nữ hoàng nhưng tôi sẽ luôn là chính mình"
Có một quá khứ đau khổ, mất đi quê hương, người thân và phải trốn chạy khi những người Gaia ở Madain Sari bại trận dưới uy lực khổng lồ của thuyền chiến kiểu mới: Invicible của Garland. Đến Alexandria, cô gái xấu số tiếp tục trở một nạn nhân của Nữ hoàng Brahne khi bà thay thế cô cho đứa con gái của mình vừa mới qua đời. Trở thành công chúa của Alexandria song Garnet không được hưởng niềm hạnh phúc của một con người trước sự ghẻ lạnh của nữ hoàng Brahne. Sau đó trước hành động khác thường của nữ hoàng, Garnet quyết định lên đường đi tìm lời giải cho chính mình rồi phát hiện ra thân phận thật sự của mình.
Garnet là một nhân vật khá hay trong đoạn sau của trò chơi nhờ các khả năng của White Magic và Summon, đặc biệt là Odin và Ark. Các Summon của Garnet cần được tăng năng lực trên số đồ để tạo ra các năng lực ấy và số monster bị giết bởi các summon này.
Eiko Carol
Age:6
Occupation: Prodigy, có thể dịch là thần kì hay thiên thần đều được
Sex: Nữ
Weapon: Sáo ma thuật và các vợt năng lượng
Special Skill:White Magic và 4 Summon phòng ngự
Trance: Double White Magic - Ra phép thuật trắng hai lần
Chủng loại: Là hợp thể của mẹ người của thế giới Gaia và bố là một Eidolion tên Madeen.
Câu nói yêu thích: "Tôi không muốn vô đơn thêm một phút nào nữa..."
Là một đứa trẻ sinh ra ở Madain Sari sau khi người Gaia bại trận và chết hết trước sự tấn công của Garland 12 năm về trước. Eiko là nhân vật nắm giữ quyền lực của 4 Summon phòng ngự, sống cùng với đại gia đình Moogle. Nhỏ tuổi nhưng lại có cảm tình với Zidane, Eiko cạnh tranh với Ganet nhưng lý trí của cô vẫn chỉ là của đứa bé. “Zidane is my life's man!”
Eiko tuy nhỏ, yếu về HP, các lực vật song Eiko sớm phát huy được ưu thế của mình bởi tỉ lệ tránh đòn cao, các White Magic lợi hại như Jewel, Holy… và năng lực kì lạ của các Summon, đặc biệt là Madeen và Carbuncle.
Vivi Ornitier
Age: 9
Occupation: Phù thuỷ
Sex: Nam
Weapon: gậy phù thuỷ
Special Skill: Black Magic
Trance: Double Black Magic - Sử dụng Black Magic hai lần
Chủng loại: Black Mage
Câu nói yêu thích :"Bạn có thể chứng minh mình tồn tại như thế nào, có thể chúng ta không tồn tại"
Là một Black Mage như những Black Mage ở Black Mage Village song mạnh mẽ hơn nhiều. Được nhặt về và chăm sóc bởi Quale sau khi vô tình bị rơi xuống từ Frachtship khi còn rất nhỏ. Ham vui, mong muốn học hỏi nhiều điều lạ, tìm kiếm cho câu trả lời: sự tồn tại của mình là gì ?, Vivi tham gia cuộc phiêu lưu từ một sự tình cờ của câu chuyện.
Sớm có mặt trong đội hình nhân vật , Vivi là nhân vật rất hay trong cả đoạn đầu và sau của trò chơi nhờ khả năng phi thường về mặt pháp thuật của mình. Ngoài ra Vivi còn có thể tăng cường được sức mạnh của đội hình khi phối hợp với Steiner, đặc biệt hay ở giai đoạn đầu của trò chơi khi Steiner chưa có các chiêu thức mạnh.
Adelbert Steiner
Age:33
Occupation: Hiệp sĩ hoàng gia, đội trưởng Cấm vệ quân
Sex: Nam
Weapon: Đao chiến binh, gươm hiệp sĩ và kiếm thánh chiến sĩ
Special Sill: Sword Art, Sword Magic
Trance: SuperAttack - Tấn công với sức mạnh gấp hai lần
Chủng loại: Người thường
Câu nói yêu thích: "Sử dụng cuộc sống của mình, phục vụ và trung thành"
Là đội trưởng của Pluto Knights 18th gồm 9 thành viên, trung thành với công chúa Garnet trong bộ giáp sắt bất ly thân - đồ sộ, hơi chậm chạp. Steiner tham gia vào cuộc phiêu lưu chỉ để bảo vệ công chúa Garnet. Có nhiều xung đột với Zidane bởi luôn cho rằng Zidane có ảnh hưởng không tốt với công chúa. Bên cạnh đó, bạn sẽ còn thấy một mối tình hài hước và vui vẻ của cặp đôi kỳ lạ trai tài gái sắc: Steiner và Beatrix.
Steiner là nhân vật có sớm song trong giai đoạn đầu lợi hại với Magic Sword. Giai đoạn sau thì lợi hại đặc biệt với chiêu Death Attack, Climazzard.
Freya Cresent
Age: 25
Occupation: Hiệp sĩ Rồng Hoàng gia
Sex: Nữ
Weapon: Giáo, thương của hiệp sỹ
Special Skill: Jump, Dragon
Trance: Super Jump - Nhảy rất cao và tấn công liên tục trong thời gian Trance
Chủng loại: Ratman – Dragon Human
Câu nói yêu thích: "Bị lãng quên còn ghê sợ hơn cái chết"
Freya (Freya có nghĩa là nữ thần giải phóng thế giới) là một thành viên của đội Hiệp sĩ rồng hòang gia (Royal Dragon Knights) của vương quốc Burmecia. Rời khỏi đất nước xinh đẹp của mình để tìm người tình đã bị thất lạc lâu năm, Sir Fratley. Freya đã gia nhập cùng nhóm sau một lễ hội săn thú ở Burmecia. Tuy là con gái nhưng Freya uống nhiều rượu và sẵn sàng giở trò bạo lực với Amarant.
Là nhân vật có ích cho giai đoạn sau của trò chơi bởi tuyệt chiêu Dragon Crest (cần giết khoảng 100 con rồng cho 9999 damages)
Quina Quen
Age:chẳng thể nào đoán nổi
Occupation: Đầu bếp
Sex: Nũ (Nam – maybe )
Weapon: Những cái dĩa khổng lồ
Special Skill: Eat, Blue Magic
Trance: Cook - Ăn đối thủ dưới 50% HP
Chủng loại: Quale, Người ếch
Câu nói yêu thích :"Tôi làm những gì mà tôi muốn, bạn có phiền không?"
Là một đầu bếp, Quina muốn cùng Zidane đi chu du vòng quanh thế giới để thưởng thức những món ngon vật lạ. Món ăn yêu thích nhất của Quina: Ếch. Và cũng chính điều này cho phép Quina học được nhiều kĩ năng Blue Magic rất lợi hại.
Là nhân vật đứng giữa pháp sư và chiến binh, nhân vật này phát huy sức mạnh trên cả 2 mặt: Vật lí và Magic. Mặt khác Magic rất đa dạng với nhiều chiêu cực có ích như: Auto Life, Angel Snack, Frog Drop, Hammer…
Amarant Coral
Age: 30
Occupation: Sát thủ
Sex: Nam
Weapon: Móng vuốt và các loại vòng tấn công
Special Skill: Throw, Faith
Trance: Elan - Faith với mọi mục tiêu
Chủng loại: Beastman, người thú - Ninja
Câu nói yêu thích: "Niềm tin, sức mạnh và chiến thắng "
Amarant (Salamander trong bản tiếng Nhật) là một sát thủ huyền thoại, bị truy nã với giá 100.000 Gil, và được nữ hoàng Brahne thuê để truy nã Garnet. Đã từng bị Zidane đánh gục sau đó vì khâm phục tài năng của Zidane nên tham gia cuộc phiêu lưu cùng Zidane.
Nhân vật này thực sự là rất lu mờ trong trò chơi không chỉ vì tham gia muộn và còn bởi vì tính thiếu đặc sắc của nhân vật này.
The Villains
Ban đầu kẻ thù thực sự chưa xuất hiện, những mối khó khăn ban đầu khiến bạn thấy đó là Nữ hoàng Brahne kẻ gây bao tội lỗi khi dẫn đoàn quân ma thuật gây chiến tranh với nước láng giềng, thu lấy những Eidolon huyền thoại như Odin, Bahamut, Atomos và tấn công nhiều đất nước. Song thực tế, ngay từ đầu, bà ta không còn là chính mình và chịu sự điều khiển ngầm bởi ma thuật Kuja. Khi bắt đầu nhận ra kẻ đứng sau lưng mình là Kuja biết bị lệ thuộc quá nhiều, Brahne triệu hồi Bahamut nhằm tiêu diệt Kuja nhưng bị chính Bahamut tấn công lại bởi ma thuật của Invincble. Và lúc này kẻ thù mới xuất hiện. Kuja - bản mẫu thứ nhất Chiến binh tiên phong của Garland. Hắn muốn thoát khỏi sự kiểm soát của Garland, truy tìm những Eidolon huyền thoại và điều khiển thế giới bằng cách xây dựng đội quân Black Mage. Là nhân vật có khả năng duy nhất là thực hiện phép Ultima trong trạng thái Trance.
Game & Battle System
Như đã nói, Final Fantasy IX quay lại với cách chơi cổ điển, các tuyệt chiêu đều không mạnh mẽ như Final Fantasy IX, mỗi đòn tấn công chỉ đạt mức sát thương tối đa là 9999, trừ việc dùng Double Magic với Vivi… Chính vì thế lợi thế không như với Final Fantasy VII hay VIII, trong một trận đấu cần 4 nhân vật như các phiên bản cũ nhằm tăng độ hỗ trợ lẫn nhau, hơn nữa kẻ địch có số máu không cao lắm tối đa cũng không quá 70.000 HP.
Với cách chơi tương tự Final Fantasy VI, các nhân vật đều có một kỹ năng riêng lợi hay hại. Việc sử dụng thành thạo và sự kết hợp lẫn nhau đòi hỏi ở người chơi cách phối hợp chính xác để có đội hình hoàn hảo của mình.
Việc mua vũ khí có phần thay đổi, bạn không chỉ cần Gil để mua mà đôi khi qua cửa hàng Synth phải có hai món đồ nào đó mới rèn được vũ khí mới. Mỗi vũ khí có khả năng đặc biệt nào đó, giúp nhân vật luyện Ability nào đấy. Và với số ngọc nhất định, các nhân vật có thể trang bị những khả năng phù hợp. Nói chung về Battle System không có gì mới cả.
Ngoài ra, trong game có hai Minigame rất hay. Đó là Card game và Chocobo Hot & Cold. Card game tương tự Final Fantasy VIII nhưng rắc rối và khó hiểu hơn, độ khó tăng nhiều, nhưng ít được lợi hơn Final Fantasy VIII nên người chơi ít thấy thú vị bằng. Chocobo Hot & Cold thực sự hấp dẫn, nó gắn liền với quá trình đào kho báu ở khắp thế giới và cả con trùm Ozma rất mạnh…
The Graphics and Music
Nhiều người không thích đồ hoạ của Final Fantasy IX mà lại thích Final Fantasy VIII hơn. Điều đơn giản mà họ cho rằng nhân vật của Final Fantasy IX xấu hơn, trông như trẻ con. Điều đó không có cơ sở. Dù sao các nhân vật cũng tầm 16 tuổi không hơn. Đồ hoạ của Final Fantasy IX đẹp hơn Final Fantasy IX rất nhiều. Nếu nói về các đoạn FMV thì có thể ngang ngửa, nhưng ở trong game thì hoàn toàn khác. Màu sắc của Final Fantasy IX đẹp và hài hoà hơn, hơn nữa đặc biệt khi ở World Map đã khắc phục nhiều lỗi đồ hoạ của Final Fantasy VIII, đồi núi, cánh rừng làm thật hơn, màu sắc đẹp hơn. Hơn thế thế giới bên ngoài của Final Fantasy IX còn thay đổi dựa theo vị trí nhân vật. Ví dụ vào gần Burmecia thì trời đổ mưa, gần Treno thì trời tối dân, trên Mist Continent thì đầy sương mù.
Âm thanh của Final Fantasy IX đánh giá cao hơn Final Fantasy VIII và sánh ngang tầm với phiên bản thứ bảy. Điều tuyệt vời khi bạn cảm nhận rất nhiều đoạn nhạc hay của nó, có lẽ chỉ người chơi qua mới nói hết được cảm xúc. Thêm nữa ca khúc Melodies of life được đánh giá cao khi mà fans không biết bài nào hay hơn bài nào. Bạn chưa chơi Final Fantasy IX nhưng ắt hẳn đã nghe thấy nó trong bất cứ đĩa nhạc nào về Final Fantasy…
Final Recommendation
Một game rất hay dành cho PlayStation, nó đóng dấu cho kết thúc của Series trên hệ máy PlayStation và tiến bước với Final Fantasy X trên PS2. Chưa thưởng thức được game này thì quả thực đáng tiếc. Tuy chơi giả lập có một số khó khăn về trình giả lập song nếu biết cách khắc phục cực dễ dàng. Enjoy!
PS: Tôi chưa chơi FFX hay X-2, nói chung là mấy bài giới thiệu về 2 game này có lẽ sẽ không có được. Nếu được thì ai có khả năng viết hộ. Nếu ko ai hứng thú thì waiting dzậy. Thanks!!!!




Trả lời kèm Trích dẫn
Đánh dấu